Vùng đất học Nghệ An hình thành qua hàng trăm năm tích lũy tri thức. Người dân nơi đây xem chữ nghĩa là tài sản, nhân tài chính là đặc trưng của vùng đất này. Nhiều thế hệ đã giữ gìn nếp học hành một cách bền bỉ. Từ đó, Nghệ An được người đời xem trọng là một miền đất địa linh nhân kiệt. Nhiều danh nhân xuất hiện từ chính những làng quê bình dị ấy.
- Tử vi 12 con giáp Thứ Bảy 22/11
- Thành phố của các vị thần Teotihuacan: Siêu đô thị 200.000 dân biến mất bí ẩn
- Ai còn bên ta khi về già
Vùng đất học Nghệ An và truyền thống khoa bảng ngàn năm
Vùng đất học Nghệ An không chỉ gắn với địa thế rộng lớn nhất cả nước. Đây còn là nơi hội tụ tinh thần hiếu học đã ăn sâu vào đời sống cộng đồng. Nhiều dòng họ, làng xã xem học hành là nền tảng để đổi đời. Từng gia đình đều cố gắng nuôi chí cho con trẻ dù cuộc sống còn rất khó.
Truyền thống này không hình thành trong thời gian ngắn. Nó tích tụ từ thời Hán học, được tiếp nối trong thời tân học và phát triển mạnh ở thời đại mới. Mỗi thế hệ đều có những nhân vật xuất sắc góp phần tạo nên bản sắc trí tuệ của xứ Nghệ.
Dưới đây là 5 vùng đất học tiêu biểu, đại diện cho chiều sâu văn hóa và giá trị khoa bảng của Nghệ An từ thời xưa cho đến nay.
Đô Lương – Đất thủ khoa với truyền thống học hành khổ luyện
Đô Lương được nhắc đến như một trong những vùng học nổi bật nhất của Nghệ An. Các làng Bạch Ngọc, Văn Khuê, Văn Lâm, Văn Tràng, Hong Nghiên, Hòn Mực hay Rú Bút đã hình thành hệ thống biểu tượng học thuật độc đáo. Những tên làng ấy giống như lời nhắc nhở người dân luôn hướng về con đường học vấn. Triết lý “học để biết, biết để làm người” được truyền qua nhiều đời. Nhờ vậy, Đô Lương sớm xuất hiện những người nổi bật trong con đường khoa cử.
Sao lại gọi là đất thủ khoa?
Sách Khoa bảng Nghệ An (1075 – 1919) có nói đến chuyện một người ở làng Nhân Hậu, xã Nam Sơn, huyện Đô Lương.
Ông là Nguyễn Đăng Quý, tự Phúc Trạch, sinh năm Chính Hòa thứ 26 (1705). Là con cụ Sinh đồ Nguyễn Đăng Cự nổi tiếng hay chữ trong làng Nho học một thời. Năm 25 tuổi, Nguyễn Đăng Quý thi đậu hương cống và liên tục 5 khoa đều đậu thi Hội.
Năm 40 tuổi, ông dự thi Hội đậu tam trường (như phó bảng triều Nguyễn) và khoa Ngự – ân khoa do vua ra đề thi (như khoa tiến sĩ).
Ông nhiều lần đỗ hương cống, thi Hội và đỗ tam trường. Ông còn vượt qua cả khoa do vua trực tiếp ra đề, một kỳ thi rất khó thời bấy giờ.
Đô Lương không có nhiều dòng họ “truyền đời đỗ đạt” như Nam Đàn hay vùng Hồ Sỹ, nhưng sự bền bỉ học hành vẫn lan tỏa sâu rộng. Nhiều gia đình nghèo vẫn quyết tâm cho con theo học chữ nghĩa. Nhờ vậy, vùng đất này liên tục ghi nhận nhiều thành tích nổi bật xuyên suốt các thời kỳ.

Đô Lương kế tục ghi danh vào khoa bảng thời hiện đại
Thời hiện đại, Đô Lương tiếp tục là cái nôi của nhiều học giả lớn đứng đầu cả nước. Có thể kể đến đó là GS.TS. Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn, Nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân, GS. Hoàng Hữu Yên, GS.TS Nguyễn Sỹ Mão, GS.TS. Thái Bá Cầu, GS.TS. Hoàng Văn Hoàn, PGS.TS Nguyễn Bá Chất, PGS.TS. Nguyễn Bá Minh, PGS.TS. Lê Viết Nghị, GS.TS.NGND Hoàng Xuân Lượng…vv
Những năm gần đây, người Đô Lương càng phấn khởi, tự hào hơn khi con em trong huyện, trong xã học hành, đỗ đạt cao. Nhiều học sinh của huyện cũng đạt thủ khoa các trường đại học lớn. Các thành tích quốc tế như HCV Vật lý của Nguyễn Tất Nghĩa càng củng cố danh xưng “Đô Lương – đất thủ khoa”.
Nếu như trước có Trương Hồng Quang – giải Nhất Văn toàn quốc (1976) thì sau này Nguyễn Tất Nghĩa – HCV Vật Lý quốc tế và Châu Á – Thái Bình Dương (2009), rồi một loạt học sinh đỗ thủ khoa các trường đại học đều có “gốc” Đô Lương: Hoàng Tuấn Anh (2005), Tăng Văn Bình (2011), Nguyễn Duy Hải (2012)…

Thanh Chương – Miền đất hiếu học với nhiều dòng họ nổi danh
Thanh Chương là vùng có truyền thống khoa bảng lâu đời. Theo sử liệu, huyện có 25 vị đỗ đại khoa từ nhiều thời kỳ khác nhau. Đây là con số lớn nếu đặt trong bối cảnh dân cư thưa thớt và điều kiện sống gian khó.
Nổi bật nhất phải kể đến hai cha con Nguyễn Phùng Thời và Nguyễn Bá Quýnh. Họ cùng đỗ đại khoa dưới thời Lê Trung Hưng. Điều này cho thấy truyền thống học hành được duy trì bền vững trong nhiều dòng họ.

Rất nhiều họ tộc trong huyện sở hữu nền học vấn vững chắc. Họ Nguyễn Tài ở Thượng Thọ, họ Trần Sỹ ở xứ Phuống, hay họ Nguyễn Sỹ và Nguyễn Duy ở Kẻ Trằm đều có nhiều người đỗ đạt. Họ Tôn ở Võ Liệt cũng nổi tiếng với nhiều người thành tài.
Điểm nhấn nổi bật nhất của Thanh Chương là Đình Võ Liệt. Công trình này có hai dãy bia đá ghi danh 455 vị khoa bảng của tổng Võ Liệt. Người dân xem đây như “Văn Miếu của Thanh Chương”.
Địa danh Tháp Bút ở xã Thanh Hương cũng là biểu tượng đặc biệt. Ngọn núi có hình chiếc bút vươn lên trời, gợi ý chí học hành bền bỉ của người dân nơi đây.
Yên Thành – Trung tâm văn chương và khoa bảng
Yên Thành cũng là vùng đất luôn đặt trọng tâm vào đạo học. Người dân đã xây dựng văn miếu, hội tư văn và hội đồng môn ở nhiều làng. Họ dành đất lập học điền để hỗ trợ người ham học. Tất cả tạo nên nền tảng khoa bảng vững chắc.
Trạng nguyên Bạch Liêu là người mở đầu cho truyền thống học hành của Yên Thành. Ông đỗ Trạng nguyên năm 1266 và trở thành niềm tự hào của cả xứ Nghệ. Từ sau ông, Yên Thành tiếp tục có 22 vị đỗ đại khoa. Trong đó có 4 vị trạng nguyên. Đây là con số rất hiếm trong lịch sử thi cử Việt Nam.

Các làng như Quỳ Trạch, Tam Thọ và Tràng Thành cũng có nhiều tú tài và cử nhân. Những con số này thể hiện sự phát triển đồng đều của truyền thống hiếu học trong toàn huyện.
Đến thời kỳ tân học, Yên Thành vẫn duy trì nếp học mạnh mẽ.
Các tài liệu “Tân thư” từ các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh được người dân Yên Thành tiếp nhận sớm. Từ đây xuất hiện lớp trí thức mới, góp phần chuẩn bị tư tưởng cho phong trào cách mạng.
Phan Đăng Lưu là biểu tượng nổi bật. Ông là người học rộng, thông minh và có tinh thần cách mạng từ rất sớm. Ông đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng tiến bộ vào Nghệ An những năm 1925 – 1930.
Quỳnh Lưu – Vùng đất trọng con chữ
Quỳnh Lưu, đặc biệt là làng Quỳnh Đôi, nổi tiếng là vùng đất hiếu học hàng đầu Nghệ An. Làng nằm trong thế phong thủy đặc biệt với Hòn Bút và Hòn Nghiên. Người dân tin rằng thế đất này hun đúc tinh thần ham học của cả cộng đồng.
Cuộc sống người dân Quỳnh Đôi xưa vốn nghèo. Thế nhưng họ luôn ưu tiên việc học. Nhiều gia đình làm nghề dệt lụa nhưng vẫn cố gắng đưa con đi học để đổi đời. Câu nói “ăn mày lấy dăm ba chữ thánh hiền” thể hiện rõ quyết tâm đó.

Thống kê cho thấy Quỳnh Đôi có 531 sinh đồ và 203 hương cống qua nhiều khoa thi. Làng có nhiều nhà khoa bảng lớn như Hồ Sĩ Dương, Dương Cát Phủ hay Văn Đức Giai. Trong đó, Hồ Sĩ Dương là một trong hai “lưỡng quốc trạng nguyên” của Việt Nam.
Từ thời hiện đại, Quỳnh Đôi là quê hương của hàng loạt học giả lớn. Có thể kể đến GS Phan Cự Đệ, GS Phan Cự Tiến, GS Nguyễn Xuân Dũng hay PGS Văn Như Cương. Số lượng trí thức cao cấp xuất thân từ một ngôi làng nhỏ là điều rất hiếm.
Diễn Châu – Vùng đất sở hữu kỳ tích “phụ tử đồng khoa”
Diễn Châu có truyền thống hiếu học lâu đời. Huyện có 34 vị đỗ đại khoa và hơn 400 vị đỗ trung khoa. Nhiều nhan sắc trí tuệ của Nghệ An xuất thân từ vùng đất này.
Nguyễn Xuân Ôn là nhà thơ và là lãnh tụ phong trào Cần Vương. Cao Xuân Dục cũng là người Diễn Châu. Ông làm đến chức Thượng thư và được xem là một trong những đại học sĩ uyên bác nhất triều Nguyễn.
Làng Nho Lâm cũng nổi tiếng với nhiều người đỗ đạt, trong đó có Đặng Văn Thụy, người đỗ Hoàng giáp năm 1904. Những thành tựu này giúp Diễn Châu trở thành một trong những trung tâm học thuật của xứ Nghệ.
Điểm đặc biệt nhất là kỳ tích “phụ tử đồng khoa” của dòng họ Ngô – Lý Trai. Hai cha con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa cùng đỗ tiến sĩ trong một khoa thi năm 1592. Đây là trường hợp duy nhất trong lịch sử Việt Nam được ghi vào Kỷ lục Guinness Việt Nam.

(Ảnh: Tin tổng hợp)
Ở thời hiện đại, dòng họ Ngô tiếp tục có nhiều đóng góp lớn. Nhiều người làm tướng lĩnh, nhà ngoại giao hoặc trí thức hàng đầu. Những thành tựu này là minh chứng cho truyền thống hiếu học được duy trì qua nhiều đời.
Vùng đất học Nghệ An là một trong những biểu tượng lớn của văn hóa Việt Nam. Nhiều thế hệ tại 5 vùng đất tiêu biểu đã xây dựng nền khoa bảng bền vững. Họ tạo nên giá trị trí tuệ đặc trưng cho xứ Nghệ và đóng góp nhiều nhân tài cho đất nước. Đây chính là “hồn cốt” làm nên sự khác biệt của mảnh đất địa linh nhân kiệt này.
Nguồn: VisitNgheAn
