Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống ở chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ, 78 tuổi, ở xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An, mới lần đầu được đứng trên mảnh đất nơi chồng mình hy sinh.
- Thanh tra Chính phủ vào cuộc rà soát toàn diện thị trường xăng dầu
- Sau làn khói ở Tràng An, nỗi bất an vẫn nằm cạnh nhà dân
- Một vùng đất ven sông Lam chuẩn bị bước vào cuộc đấu thầu lớn
Buổi sáng cuối tháng Năm, bà đứng lặng trước Đài tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 trên đất Hải Lăng, Quảng Trị. Gió thổi qua hàng bạch đàn, khói hương quyện trong nắng sớm, đôi bàn tay gầy guộc chắp trước ngực. Không có phần mộ để bà quỳ xuống gọi tên, không có nắm đất nào để biết chắc chồng mình nằm ở đâu, chỉ có một đài tưởng niệm chung giữa cánh đồng lộng gió và một ký ức chưa từng phai suốt 54 năm.
Bà đặt bó hoa cúc vàng, run run thắp nén hương, khẽ gọi: “Anh ơi… cuối cùng em cũng tìm được nơi anh nằm lại…”. Người bà gọi là liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh, người chồng đầu tiên, người mà bà chỉ được làm vợ đúng bốn ngày.
Câu chuyện của họ bắt đầu từ mùa xuân năm 1968, khi Nhà máy đường Sông Lam sơ tán về Nam Đàn. Sau ca làm đêm, cô công nhân trẻ Nguyễn Thị Ngọ gánh nước giúp mẹ thì một người lính trên đường hành quân ghé lại: “Để anh gánh giúp”. Cô ngượng ngùng từ chối, nhưng hai người vẫn đứng lại bên giếng trò chuyện. Anh tên Nguyễn Văn Đinh, đơn vị dừng chân ba ngày trước khi tiếp tục vào Nam.
Trước lúc chia tay, anh xin địa chỉ, hẹn: “Tối anh sang thăm hai bác”. Bà chỉ cười, nghĩ đó là câu xã giao của người lính trẻ. Nhưng tối hôm ấy anh đến thật, ngồi ngoài sân dưới ánh đèn dầu sau khi trò chuyện với bố mẹ bà. “Anh kể về tuổi thơ thiếu mẹ, lớn lên nhờ các cậu, các dì cưu mang. Kể về những người bạn cùng trang lứa đã khoác ba lô ra trận, kể về ước nguyện đất nước hòa bình… Càng nghe, tôi càng thương anh”, bà Ngọ kể, mắt đỏ hoe.
Sau lần gặp ấy là những cánh thư nối dài, mỗi lá thư một niềm mong, mỗi dòng chữ một lời hẹn. Gần hai năm sau họ mới gặp lại, cuộc gặp chỉ vỏn vẹn ba giờ trước khi anh lên đường ra Bắc, nhưng đủ để cả hai quyết định gắn bó đời mình.
Ngày 6/11/1971, họ nên duyên vợ chồng. Không váy cưới, không ảnh cưới, không tuần trăng mật, chỉ có đôi câu đối anh gửi về trước ngày cưới: “Trai thêu Tổ quốc vui lòng vợ/ Gái dệt non sông thắm ý chồng”. Ba ngày sau khi đưa vợ ra mắt gia đình ở Thanh Hóa, anh lặng lẽ trở về đơn vị. Sáng hôm sau bà thức dậy không thấy chồng đâu, bố chồng bảo: “Nó đi đơn vị rồi. Không dám nói với con vì sợ con khóc”. Người vợ trẻ òa khóc nức nở.
Một tháng sau, nhân đơn vị hành quân qua Nghệ An, nhà máy tạo điều kiện cho bà về gặp chồng lần cuối mà bà không hề hay biết. “Anh cầm tay tôi bảo, giải phóng đất nước xong anh sẽ về. Anh dặn tôi giữ gìn sức khỏe, nhớ hai chữ thủy chung. Tôi chỉ biết khóc… Không ngờ đó là lần cuối được nhìn thấy anh”, bà nghẹn ngào. Chiếc xe chuyển bánh, bà đứng nhìn theo đến khi chỉ còn lại bụi đỏ. Những lá thư thưa dần rồi bặt hẳn. Cuối năm 1972, giấy báo tử được gửi về, khi người vợ trẻ mới ngoài đôi mươi.
Rạng sáng 26/5/1972, tại khu vực cầu Câu Nhi, sông Mỹ Chánh (Quảng Trị), Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 308 được giao nhiệm vụ chặn bước tiến quân địch từ Huế ra Quảng Trị. Sau khi đánh sập cầu, đơn vị bị phát hiện và hứng chịu hỏa lực dữ dội; 93 trong số 110 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh chỉ trong một trận đánh, nhiều người đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt, trong đó có liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh.
Bốn năm sau ngày nhận giấy báo tử, trước sự động viên của gia đình và đồng nghiệp, bà Ngọ mới chấp nhận đi bước nữa, với ông Đậu Quang Thuận, đồng nghiệp cùng nhà máy. Hiểu rõ mối tình sâu nặng giữa bà và người chồng liệt sĩ, ông bước vào cuộc hôn nhân ấy bằng sự cảm thông hiếm có. “Tôi biết ơn ông ấy lắm. Nếu không có sự bao dung ấy thì tôi không biết mình sẽ sống thế nào. Ông ấy chưa bao giờ bắt tôi quên anh Đinh”, bà xúc động nói.
Trong ngôi nhà nhỏ bên dòng sông Lam, bàn thờ vẫn trang trọng đặt di ảnh của cả hai người chồng. Suốt những năm chung sống, người chồng thứ hai chưa một lần tỏ ý ghen hay khó chịu khi bà vẫn dành trọn sự tưởng nhớ cho người đã khuất. “Tôi vẫn trò chuyện với anh Đinh như ngày anh còn sống. Ngay cả khi chúng tôi có với nhau ba mặt con, ông Thuận cũng không một lời nặng nhẹ khi tôi vẫn để ảnh anh Đinh ở đầu giường”, bà tâm sự.
Chị Đậu Thị Lê Na, con gái út của bà, kể rằng ba chị em lớn lên cùng những câu chuyện về người bác liệt sĩ, và với họ, bác Đinh chưa bao giờ là người xa lạ. “Có lần chị em tôi sắp xếp album gia đình, vô tình để ảnh bác Đinh xuống phía sau. Bố lấy ra, đặt lên đầu rồi bảo: Các con phải biết ơn bác. Nếu không có những người như bác thì làm gì có cuộc sống hòa bình hôm nay”, chị Na chia sẻ. Từ đó, ba chị em luôn coi bác Đinh như người thân trong nhà.
Khi biết mẹ đã xác định được nơi người chồng đầu hy sinh, chính ba người con là những người đưa bà trở lại Quảng Trị, hiểu rằng điều mẹ cần sau hơn nửa thế kỷ không chỉ là một chuyến đi, mà là cơ hội được thắp nén hương đúng nơi người mình yêu đã ngã xuống. “Tôi chỉ mong một ngày nào đó tìm được anh Đinh để đưa anh về quê. Nếu không được thì ít nhất, giờ đây tôi cũng biết anh đã nằm lại nơi nào. Như thế, lòng tôi cũng thanh thản hơn”, bà bày tỏ.
Nỗi đau đáu ấy không chỉ dừng ở một người. Nhiều năm qua, gia đình bà còn mòn mỏi chờ tin liệt sĩ Đậu Dương Thanh, sinh năm 1945, anh trai ông Đậu Quang Thuận. Cuối năm 1964, khi là Thượng sĩ, Tiểu đội trưởng thuộc P1.M, ông Thanh đã hy sinh tại chiến trường miền Nam. 62 năm trôi qua, gia đình vẫn chưa có bất kỳ thông tin nào về nơi ông yên nghỉ
Phan Sơn (tổng hợp).
