Trạng nguyên Bạch Liêu: Tài trí xuất chúng của đất học xứ Nghệ

Trong những trạng nguyên của đất Việt, rất nhiều người nổi tiếng là thần đồng thông minh từ nhỏ. Tuy nhiên một vị thần đồng đỗ trạng rồi lại không làm quan mà chỉ muốn làm dân thường, lui về dạy học, nhưng vẫn góp công lớn trị quốc, đánh đuổi giặc ngoại xâm, thì chỉ có Trạng nguyên Bạch Liêu.

Thuở nhỏ Bạch Liêu và mầm tư tưởng pháp trị vượt thời đại

Theo sử sách ghi lại Bạch Liêu (白遼 Bái Liáo) sinh ngày 15 tháng giêng năm 1236 (Năm Bính Thìn), tại làng Nguyên Xá, xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Cha Bạch Liêu nhà nghèo, làm nghề dạy học và bốc thuốc, lấy vợ mãi đến năm 40 tuổi mới sinh con ở xa quê nên đặt tên con là Liêu (遼 Liáo: nghĩa là xa).

Dân gian kể chuyện thời đi học, Bạch Liêu thường tranh luận với bạn bè. Nội dung xoay quanh tự nhiên và pháp luật. Có lần, thầy đồ yêu cầu nêu ý kiến. Ông nói: “Nếu pháp luật tốt thì mọi thời đại đều không cần đến nhiều quan cai trị”. Trong thời gian này, ông kết giao với Đại Minh. Đại Minh là con quan tuần phủ, cũng là học trò giỏi. Nhờ Đại Minh, Bạch Liêu đọc nhiều sách quý. Kiến thức của ông vì thế ngày càng uyên bác.

Con đường khoa bảng và dấu ấn Trạng nguyên

Tương truyền Bạch Liêu từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Trong sử ký của Phan Thu Tiên và Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đều viết: Ông thông minh, đọc sách 10 dòng một nháy mắt…

Năm Thiên Long thứ 9, đời Trần Thánh Tông (1266), trong khoa thi vào tháng 3 tại Kinh Thành, Bạch Liêu cùng với Trần Cố đứng đầu bảng và đều được phong Trạng nguyên (Kinh Trạng nguyên Trần Cố và Trại Trạng nguyên Bạch Liêu). Như vậy Bạch Liêu đậu Trạng nguyên khi đang ở tuổi 30.

Bạch Liêu xuất chúng vượt trội. Ông đỗ đầu cả bốn kỳ thi: gồm trường nhất, trường nhì, trường tam và trường tứ. Người đương thời khen ông hơn cả Trần Cố. Nho sĩ đời sau xem ông là người khai khoa xứ Nghệ.

Trạng nguyên đệ nhất tam khôi
Nhất danh nhất giáp, đầu ngôi bảng vàng
Mũ rồng, áo tía vua ban
Lọng xanh đi trước, lọng vàng theo sau.

Sau lễ vinh quy, tân khoa thường vào triều để nhà vua ban chức vụ. Nhưng Bạch Liêu không nhận chức. Ông khước từ rất chân thành: “Xin bệ hạ rủ lòng thương cho thần được ở lại quê báo hiếu song thân. Thần xin đem tài lược lo giúp việc công ngay trong bản xứ” (theo gia phả). Lời thỉnh cầu của Bạch Liêu được vua Trần Thánh Tông chấp nhận.

Trạng nguyên góp kế trị quốc, chuẩn bị chống giặc

Khi Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải được cử vào trấn thủ Nghệ An, ông đặc biệt quý trọng tài năng và phẩm hạnh của Trạng nguyên Bạch Liêu – người con của vùng đất này. Từ sự mến mộ ấy, Trần Quang Khải mời Bạch Liêu làm môn khách trong nhà. Hai người thường cùng làm thơ, bàn văn, nói chuyện quốc sự rất hợp ý. Nhờ đó, Trần Quang Khải ngày càng tin cậy và để Bạch Liêu tham gia bàn bạc những việc trọng yếu của triều đình và quân sự.

Thời điểm ấy, Đại Việt tuy đã đánh bại cuộc xâm lăng của quân Mông Thát năm 1258, nhưng nguy cơ vẫn luôn cận kề. Quân Mông Thát đang gây sức ép với Đại Việt trong khi dồn lực đánh nhà Tống. Việc chúng chuẩn bị cho một cuộc trả thù là điều ai cũng nhìn thấy. Trần Quang Khải không giấu được nỗi lo và thường trao đổi với Bạch Liêu cùng các môn khách khác về tình hình sắp tới.

Nhận thấy vùng Hoan Diễn ở Nghệ An là nơi trù phú, có thể trở thành hậu phương mạnh nếu chiến tranh xảy ra, Bạch Liêu dâng bản “Biến pháp tam chương”, nêu ba việc cấp thiết mà Đại Việt cần làm:

1. Về quân sự:
Rà soát dân số và ghi chép rõ ràng. Tuyển chọn tráng đinh để lập lực lượng khoảng mười vạn quân, chia phiên luyện tập thường xuyên. Đồng thời dựng xưởng rèn để chủ động trang bị vũ khí.

2. Về lương thảo:
Khuyến khích vương hầu, quan tướng lập điền trang, chiêu tập dân nghèo và gia nô khai hoang, tăng sản lượng lương thực. Mở đường thiên lý từ Thanh Hóa tới Hoành Sơn, cách mỗi 20 dặm đều đặt kho chứa thóc và binh khí.

3. Về phía Nam:
Củng cố các đồn trấn ở vùng giáp Chiêm Thành (nay thuộc Hà Tĩnh). Cho dân đến khai khẩn ruộng hoang, lập làng ngay nơi vừa mở đất để vừa mở rộng bờ cõi, vừa giữ thế phòng bị.

Trần Quang Khải đọc xong, hết lời khen ngợi và lập tức áp dụng. Ông cùng Trần Quốc Khang đưa gia nô đến lập điền trang, thực thi đúng theo kế hoạch mà Bạch Liêu đề xuất.

Sau năm năm (1266–1271), Hoan Diễn trở nên giàu mạnh, nguồn lương thực dồi dào, quân dự bị mười vạn người đã quen luyện tập và sẵn sàng chiến đấu. Vùng đất này trở thành hậu phương vững chắc nếu chiến tranh với Mông Thát bùng nổ. Công việc của Trần Quang Khải được triều đình đánh giá rất cao.

Đến năm 1271, do áp lực ngoại giao từ Mông Thát gia tăng, triều đình gọi Trần Quang Khải về kinh giữ chức Thái úy. Trước ngày rời Nghệ An, ông cẩn thận nhờ Bạch Liêu tiếp tục hỗ trợ các quan trong việc duy trì những biện pháp đã đề ra. Dù trở về triều, Trần Quang Khải vẫn thường xuyên thư từ trao đổi với Bạch Liêu về tình hình ở Hoan Diễn.

Danh nho được kính trọng

Sau khi Đại Việt giành thắng lợi, triều đình ban thưởng cho nhiều công thần, trong đó có Bạch Liêu. Tuy nhiên, ông khiêm nhường từ chối cả chức tước lẫn lễ vật. Bạch Liêu về quê Nghệ An một thời gian. Có lẽ theo lời mời của các bạn cũ, ông ra sống với bà con làng Nghĩa Lư thuộc đất Hải Đông (sau này thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Ở đây, ông được dân làng tôn kính là thầy và dựng cho một cư xá khang trang. Nhiều bậc danh nho trong vùng tìm đến kết bạn. Ông mở trường dạy con em trong vùng. Sau này, học trò của ông nhiều người hiển đạt, thi đỗ đến Tam Khôi. Ông cũng làm nghề cắt thuốc chữa bệnh cứu người và truyền đạt những kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp cho người dân.

Mùa xuân năm Ất Mão (1315), Bạch Liêu lâm bệnh nặng và mất vào ngày 24 tháng Giêng, tại làng Nguyên Xá, huyện Đông Thành. Do có công với đất nước, ông đã được các triều Lê, Nguyễn sắc phong Thần mộ. Triều đình phong ông làm Phúc Thần, hiệu là “Dương cảnh Thành Hoàng Đại Vương”.

Di tích lịch sử Quốc gia Đền thờ Trạng nguyên Bạch Liêu tại làng Phú Điền

Trạng nguyên Bạch Liêu
Đền thờ Trạng nguyên Bạch Liêu (Nhà thờ họ Bạch) tại làng Phú Điền – xã Hưng Phú – Hưng Nguyên. (Ảnh: Nghệ An Mới)

Nhà sử học Trần Bá Chí cho biết: vào thời Nguyễn, vùng Nguyên Xá (xã Mã Thành, huyện Yên Thành) thường xuyên bị hổ rừng quấy phá, khiến đời sống người dân bất an. Trước cảnh đó, dòng họ Bạch quyết định rời quê, một bộ phận di cư vào đất Hà Hoàng (Can Lộc), số khác đến lập ấp tại làng Phú Điền (nay thuộc xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên). Cũng từ đó, nhà thờ họ Bạch thờ Tổ Trạng nguyên Bạch Liêu được con cháu dựng lên tại Phú Điền, trở thành dấu mốc quan trọng gắn liền với sự an cư và tiếp nối truyền thống tôn sư trọng đạo của dòng họ.

Ngày 16/12/1993, đền thờ Trạng nguyên Bạch Liêu (nhà thờ họ Bạch) tại làng Phú Điền – xã Hưng Phú – huyện Hưng Nguyên được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số QĐ 2015.VHQG. Đến năm 2013, theo đề nghị của Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch Nghệ An, di tích tiếp tục được đầu tư nâng cấp với tổng kinh phí hơn 12 tỷ đồng. Công trình hiện là nơi tưởng niệm vị Trạng nguyên kiệt xuất, đồng thời là không gian linh thiêng, biểu tượng niềm tự hào của người dân địa phương.

Tiếp nối di sản Trạng nguyên Bạch Liêu

Họ Bạch Việt Nam
Đại hội Họ Bạch Việt Nam. (Ảnh: Nghệ An Mới)

Ngày nay, hậu duệ của Trạng nguyên Bạch Liêu ở cả trong và ngoài nước vẫn giữ trọn tinh thần đoàn kết, cùng nhau thành lập Đại hội Họ Bạch Việt Nam được tổ chức định kỳ mỗi năm. Hoạt động này nhằm tôn vinh truyền thống hiếu học và phẩm hạnh thanh cao mà cụ tổ Bạch Liêu để lại — một tấm gương không màng lợi danh, lặng lẽ cống hiến cho dân cho nước, truyền cảm hứng cho các thế hệ con cháu tiếp tục bước theo.