Nghị định 46 tạm lùi áp dụng vẫn chưa gỡ vướng tận gốc

Nghị định 46 tạm dừng thực hiện đến 15-4 chỉ là giải pháp tình thế, doanh nghiệp mong muốn sửa đổi Luật An toàn thực phẩm để giải quyết vướng mắc cốt lõi.

Nghị định 46 gây áp lực bằng thủ tục thừa

Tại hội thảo do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức mới đây vào ngày 2/6 nhiều hiệp hội doanh nghiệp đã bày tỏ sự lo ngại về các quy định trong Nghị định 46. Đại diện Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT) nhận định rằng văn bản này đang mở rộng diện kiểm tra nhà nước một cách thiếu chọn lọc, gây quá tải cho cả cơ quan quản lý lẫn đơn vị sản xuất. Việc áp dụng đại trà các quy định kiểm tra mà không dựa trên phân loại rủi ro đang tạo ra những rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với dòng chảy hàng hóa.

Đáng chú ý, không chỉ các loại thành phẩm nhập khẩu mà ngay cả nguyên liệu, phụ gia và bao bì phục vụ sản xuất nội bộ cũng bị đưa vào diện tiền kiểm khắt khe. Để đáp ứng quy định, doanh nghiệp buộc phải thực hiện công bố hợp quy cho những mặt hàng vốn dĩ chỉ dùng để sản xuất trong chuỗi cung ứng khép kín của mình. Điều này không chỉ làm tăng chi phí tuân thủ mà còn làm chậm tiến độ đưa nguyên liệu vào dây chuyền sản xuất, gây lãng phí nguồn lực của cộng đồng kinh doanh.

Một minh chứng cụ thể cho sự bất cập là trường hợp lô hàng từ Ấn Độ đã có đủ chứng nhận hữu cơ quốc tế nhưng vẫn phải xin thêm giấy xác nhận tại Việt Nam. Quy trình này đòi hỏi phải lấy mẫu kiểm nghiệm tại các phòng được chỉ định trong nước, trong khi nhiều đơn vị này vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể hoặc chỉ tiêu kiểm tra quá khác biệt so với chuẩn quốc tế. Sự thiếu đồng bộ giữa các tiêu chuẩn kiểm nghiệm nội địa và thế giới đang là nút thắt lớn nhất khiến doanh nghiệp gặp khó.

Nguy cơ đứt gãy từ khâu kiểm định

Theo đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), mức độ kiểm tra nhà nước hiện nay đã tăng gấp nhiều lần, chuyển từ kiểm tra hồ sơ sang lấy mẫu thực tế. Quy trình quản lý cũng bị đẩy từ 2 cấp lên thành 3 cấp, trong khi số lượng các cơ sở kiểm nghiệm đủ năng lực lại có xu hướng giảm xuống. Hệ quả trực tiếp là thời gian chờ đợi thông quan bị kéo dài đáng kể, gây áp lực cực lớn lên kho bãi và chi phí lưu kho của doanh nghiệp.

Đối với các mặt hàng đặc thù như rau củ quả và thực phẩm tươi sống, việc chậm trễ chỉ từ 9 đến 10 ngày có thể khiến toàn bộ lô hàng bị hư hỏng, coi như mất trắng. Điều nghịch lý là phần lớn các vụ hàng giả, hàng kém chất lượng thời gian qua không xuất phát từ nhóm hàng nhập khẩu chính ngạch, nhưng đây lại là nhóm chịu chế độ tiền kiểm nặng nề nhất. Những quy định về đăng ký bản công bố sản phẩm, đặc biệt là với sản phẩm cho trẻ dưới 36 tháng tuổi, đang làm phát sinh thêm các thủ tục hành chính chồng chéo.

Tại nhiều địa phương, việc thực thi các quy định mới vẫn chưa có sự thống nhất, dẫn đến tình trạng các hồ sơ đang còn hiệu lực vẫn bị yêu cầu làm lại từ đầu. Các thay đổi về nhãn mác và quy định quảng cáo áp dụng thiếu nhất quán khiến kế hoạch sản xuất và tung sản phẩm của doanh nghiệp thường xuyên bị gián đoạn. Những chi phí phát sinh này cuối cùng sẽ đẩy giá thành sản phẩm lên cao, gây thiệt hại trực tiếp cho người tiêu dùng và làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Sửa đổi Nghị định 46 để quản lý rủi ro

Ông Tống Xuân Chinh, Phó chủ tịch Hiệp hội Sữa Việt Nam, cho rằng việc lùi thời hạn thực hiện chỉ là giải pháp tạm thời để thông quan hàng hóa giai đoạn cao điểm Tết. Để giải quyết tận gốc vấn đề, cần quay lại áp dụng cơ chế theo Nghị định 15 trước đây và khẩn trương sửa đổi Luật An toàn thực phẩm. Mục tiêu là xây dựng một nghị định mới thay thế Nghị định 46, hướng tới sự minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động kinh doanh bền vững.

Các hiệp hội như AFT, EuroCham và AmCham đều thống nhất kiến nghị cần gia hạn thời gian thực thi ít nhất đến giữa năm 2026. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, các cơ quan chức năng cần ưu tiên phương thức hậu kiểm và quản lý rủi ro thay vì tập trung vào tiền kiểm như hiện nay. Việc kiểm tra cần được thực hiện dựa trên lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp và mức độ nguy cơ của sản phẩm, tránh tình trạng kiểm tra dàn trải, gây lãng phí ngân sách nhà nước.

Bên cạnh việc sửa đổi văn bản pháp luật, việc số hóa dữ liệu và công nhận kết quả kiểm nghiệm của các tổ chức quốc tế uy tín là vô cùng cấp thiết. Cơ quan quản lý cần đảm bảo các tỉnh, thành phố có đủ năng lực thực thi và thời gian để doanh nghiệp kịp thích ứng với các tiêu chuẩn mới. Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm phải được xây dựng đồng bộ từ trang trại đến bàn ăn, dựa trên các tiêu chuẩn tiên tiến như HACCP, ISO nhằm đảm bảo chất lượng mà vẫn hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Theo: Báo Tuổi Trẻ