Bữa cơm rang đêm muộn của người mẹ kế không máu mủ

Nghệ An – Bà Phan Thị Thủy (SN 1971), ở xóm Đồng Xuân, xã Quan Thành, nuôi bốn con gái riêng của chồng khôn lớn và được dân làng nhắc đến như người mẹ kế “có 1 không 2”.

Năm 2003, bà Vũ Thị Hương đột ngột qua đời sau một biến cố sức khỏe, để lại cho ông Nguyễn Bùi Đạt (SN 1970) bốn cô con gái, trong đó bé út Nguyễn Thị Thu Hiền mới một tuổi rưỡi. Hiểu rằng tình thương của mình không bù được chỗ trống của người mẹ nhưng lại sợ các con không chấp nhận mẹ kế, ông đưa cô con gái đầu Nguyễn Thị Phương, khi ấy 16 tuổi, đến nhà bà Thủy để chính con “chấm điểm” người sẽ về làm vợ mình.

Hỏi đường vào nhà bà Thủy ở xóm Đồng Xuân, người ta chỉ dặn cứ đến chỗ có đông người ngồi uống nước chè. Từ nhiều năm nay, căn nhà nhỏ của vợ chồng bà là nơi bà con tụ lại hàn huyên mỗi lúc nông nhàn.

Ông Thái Duy Ân, người cùng xóm, nói về bà: “Hiếm có ai được như bà ấy. Mẹ kế mà thương con chồng như con ruột, thậm chí còn hơn cả con ruột”.

Những ngày sau khi vợ mất, ông Đạt nhiều đêm không chợp mắt vì thương bốn đứa con sớm mồ côi. Có đêm bé Hiền nhớ mẹ, khóc ngằn ngặt, và tiếng khóc khát sữa ấy khiến ông hiểu rằng tình thương của người cha không lấp được khoảng trống vắng mẹ.

Ông nghĩ đến chuyện tìm mẹ kế cho con, nhưng lo làng xóm dị nghị và các con gái lớn không bằng lòng. Ông và bà Thủy vốn là bạn học cũ, sống cùng xã; lúc ấy bà đã 32 tuổi, chưa lấy chồng, không vướng con cái, nên ông dè dặt ngỏ lời.

Bà biết rõ cảnh gà trống nuôi con của ông. Lớn lên thiếu tình cảm của mẹ, bà rưng rưng nước mắt khi nghĩ đến bốn đứa trẻ sớm mồ côi, và có lẽ trước hết bà đến với ông vì chính bốn đứa trẻ ấy.

Dù bà đã nhận lời, ông Đạt vẫn không yên lòng. “Bà Thủy bằng lòng rồi, nhưng thật tâm tôi lo lắm, tôi sợ các con khó chấp nhận”, ông kể. Ông gọi Phương ra nói chuyện, bảo rằng bố tôn trọng ý kiến các con: “Con đồng ý thì bố mới đưa cô ấy về nhà”.

Chỉ qua một buổi trò chuyện ở nhà bà Thủy, sự chân thành, mộc mạc của bà đã chinh phục cô con gái lớn. Biết bà về làm vợ sẽ chịu nhiều thiệt thòi, ông Đạt không thể làm đám cưới thật to nhưng cũng không để bà chạnh lòng: ông làm mấy mâm cơm, thắp hương báo với vợ cả, mời họ hàng hai bên và hàng xóm thân thiết đến chứng kiến ngày đón bà về.

Những đêm cõng con

Những ngày tân hôn của bà Thủy là những đêm trắng bên bé Hiền, đứa trẻ một tuổi rưỡi mất mẹ sớm, hay đau ốm và bám bà không rời. Đêm con quấy khóc, bà lúc bế, lúc cõng trên lưng. Có đêm ông Đạt tỉnh dậy sau giấc ngủ mệt, vẫn thấy vợ cõng con đi lại trong nhà để dỗ ngủ, và ông biết mình đã chọn đúng người.

Một năm sau, bà sinh con trai đầu lòng Nguyễn Bùi Đạo, nhưng tình cảm bà dành cho Hiền và ba cô chị không vì thế mà đổi khác. Phương cùng hai em gái không gọi bà là mẹ mà gọi bằng “mự”, không xa lánh nhưng cũng chưa thân thiết. Khi Phương lấy chồng, sinh con, bà gửi con trai và Hiền cho chồng rồi ngày ngày đạp xe mấy chục ki-lô-mét sang chăm con gái và cháu ngoại. Cảm nhận được tình cảm chân thật ấy, Phương đổi cách xưng hô và coi bà như mẹ ruột.

Với Lương, người con khiến bà nặng lòng nhất, chặng đường dài hơn. Ngày bà về nhà, Lương mới bảy tuổi, đã đủ lớn để nghe những lời đời thường nói về mẹ kế, con chồng. Bà càng vỗ về, cô bé càng ngấm ngầm phản ứng bằng cách trêu các em, cúp học, đánh nhau.

Bà yêu thương các con nhưng cũng nghiêm khắc. “Tôi đã từng đánh cái Lương 2 roi”, bà kể. Chị Nguyễn Thị Lương nhớ lại: “Có lúc tôi nặng lời, hỗn với mẹ nên bị bố đánh, tôi càng nghĩ bố bênh mẹ kế mà không thương mình”.

Lên cấp hai, Lương càng ngỗ nghịch, thường bỏ học rồi đánh nhau. Một hôm bà đi làm về, thấy nhà đông người, mẹ của đứa bạn bị Lương đánh đã đến tận nhà kêu. Bà quất con hai roi, rồi nói: “Đánh con nhưng tôi buồn lắm, tôi không dạy được con là có lỗi với mẹ cháu”.

Bị đánh, Lương bỏ sang nhà bà ngoại, và trốn khi bà Thủy tìm đến. Đến 21-22 giờ bà mới tìm thấy con. Bà không mắng, chỉ lẳng lặng đưa con về và rang cơm cho con ăn. Lúc ấy Lương mới nhận ra mẹ cũng chưa ăn gì, và những hờn dỗi trẻ con của cô dần phai đi.

Chị Lương cùng bố mẹ chụp ảnh lưu niệm trong ngày cưới của em trai. (Ảnh minh họa: NAM)

Khi Lương lấy chồng, sinh con, bà Thủy vào viện chăm từng li từng tí, không nề hà việc gì. “Nhìn cách mẹ chăm lo cho tôi, không ai nghĩ là mẹ kế”, chị nói. Chị kể mẹ lẳng lặng làm hết mọi việc, kể cả khi bị người ta hiểu sai về mình cũng không ý kiến hay đôi co: “Mẹ bảo chỉ cần chị em tôi vui, sống hạnh phúc là được”.

Ông Đạt và bà Thủy sinh thêm hai người con. Bà một tay quán xuyến việc nhà, phụ chồng làm lụng để nuôi các con khôn lớn, rồi trông các cháu ngoại mỗi khi con gái đi làm xa. Khi bà Vũ Thị Lan, mẹ vợ trước của ông Đạt, đau ốm, bà Thủy chạy qua chạy lại lo cơm nước, thuốc thang, rồi chính bà bàn với chồng đón cụ về nhà chăm sóc và lo chu toàn khi cụ qua đời.

“Tôi may mắn lấy được bà ấy”, ông Đạt nói. Có lúc ông thấy “chạnh lòng” vì các con chu đáo với mẹ Thủy hơn cả với mình. Dù ở xa, các con vẫn âm thầm tổ chức bữa tiệc nhỏ hay dành quà bất ngờ cho mẹ mỗi dịp lễ, sinh nhật, trong đó có dịp 20/10 vừa qua.

Bà Thủy cười, nói mình chỉ nghĩ đơn giản: “Mình thương các con thì các con sẽ thương mình thôi. Các con khôn lớn, yêu thương lẫn nhau là tôi mãn nguyện rồi”.

Nguyễn Hiền (tổng hợp)