Những phiến đá cổ Nghệ An còn lưu tên người công đức xưa

NGHỆ AN – Hàng trăm văn bia còn sót lại tại các ngôi chùa cổ ghi tên hàng nghìn người dân, từ nông dân đến quan lại triều đình, từng góp ruộng đất và tiền của để trùng tu chùa làng và gửi gắm lòng tri ân tổ tiên.

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Khải, nguyên Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh cũ, công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 7/2026, tỉnh Nghệ An hiện còn lưu giữ 165 bia và bản dịch văn bia, trong đó có 16 bia chùa mang niên đại trải dài từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Những dòng chữ khắc trên đá ấy hé lộ vì sao người dân, từ thường dân đến quan lại, đã chọn gắn bó tài sản và tâm nguyện của mình với cửa chùa qua nhiều thế hệ.

Trong số tín đồ được văn bia ghi lại, có những người là con cháu trực hệ của các gia đình quan chức. Văn bia “Trùng tu Bảo Quang tự bi/Thập phương tín thí công đức”, soạn ngày tốt tháng Sen năm Vĩnh Tộ thứ 3 (1621), liệt kê hàng chục con cháu của các gia đình Nguyễn Hùng Tài, Nguyễn Hoằng Tài và quan Tuần phủ Thuyên Vũ bá Nguyễn Hoằng Nhân cùng đứng tên công đức.

Bia đá ghi dấu tư liệu về hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng Phật tử Nghệ An. (Ảnh minh họa: NAM)

Cùng thời điểm đó, văn bia “Trùng tu Phúc Quang tự bi/Tín thí”, ghi lại việc trùng tu chùa Phúc Quang vào năm Thuận Đức nguyên niên (1600), cho thấy phần lớn người công đức là các cặp vợ chồng nông dân bình thường trong làng, từ Tôn Sản, Vũ Quận đến Nguyễn Văn Huệ cùng vợ là Trần Thị Lộc, mỗi người góp một phần ruộng nhỏ để chùa có kinh phí trùng tu.

Ở một cấp bậc khác, văn bia “Chung Sơn Bảo Quang tự bi”, dựng tháng 9 năm Vĩnh Tộ thứ 3 (1621) do Thượng thư bộ Hình Nguyễn Lễ tự Thuần Khanh soạn, ghi tên nhiều quan chức triều đình bỏ tiền mua gỗ, mướn thợ xây chùa và tạo tượng, trong đó có Quyền Trấn thủ xứ Nghệ An Hoàng Nghĩa Phúc cùng phu nhân Hoàng Thị Ngọc Chất, và tướng quân Dương Mậu Thịnh.

Không chỉ công đức ruộng đất, nhiều người còn gửi giỗ cho người thân vào chùa để bày tỏ lòng hiếu nghĩa. Văn bia “Hậu Phật bi ký”, dựng ngày 28/11/1765, ghi việc một vị quan tự Pháp Điều cùng vợ hiệu Thiện Lai cúng hai thửa ruộng và 20 quan cổ tiền để cha mẹ được làng bầu làm hậu Phật.

Tại chùa Bảo Quang, hàng chục người đứng ra làm Hội chủ và phụ Hội chủ để lo việc hưng công trùng tu, trong đó có Nguyễn Hùng Tài, Lê Thị Ngọc Trang, Hoàng Nghĩa Phúc. Họ là những người đứng mũi chịu sào, kết nối công sức và tiền của của cả làng vào từng viên gạch, từng pho tượng.

Việc trùng tu chùa còn cuốn hút cả những trí thức Nho học vào cuộc, dù Phật giáo và Nho giáo vốn là hai hệ tư tưởng khác nhau. Thượng thư Nguyễn Lễ soạn văn bia chùa Bảo Quang, còn Tiến sĩ Nguyễn Dụng tự Nghi Phu soạn văn bia chùa Phúc Quang ngày 26/6/1600, cho thấy ranh giới giữa hai dòng tư tưởng ấy trong đời sống làng xã khi đó khá mờ nhạt.

Mỗi thửa ruộng công đức đều được ghi rõ diện tích, vị trí, tên xứ đồng trên mặt đá. Sự tỉ mỉ ấy không chỉ là thủ tục hành chính, mà còn là cách người xưa giữ cho lòng thành của mình minh bạch trước cả làng.

Đổi lại, dân làng bầu những người có công đức làm hậu Phật, để tên tuổi họ được khắc ghi và thờ cúng lâu dài trong chùa. Đó là cách một cộng đồng trả ơn những người đã âm thầm góp phần giữ gìn nơi thờ tự chung.

Suốt nhiều thế kỷ, từ người có ruộng vườn đến người biết chữ nghĩa, mỗi người tìm một cách riêng để góp phần vào việc chung của làng, không phân biệt giàu nghèo hay địa vị. Những phiến đá còn lại đến hôm nay là bằng chứng cho thấy trách nhiệm với cộng đồng, một khi đã bén rễ trong đời sống tín ngưỡng, có thể bền vững qua nhiều đời người.

Hoàng Hà (tổng hợp)