Khi phố phường còn chìm trong giấc ngủ, những người chăm sóc thuê đã thức dậy bên giường bệnh, bắt đầu một ngày bằng những công việc lặng thầm: thay bỉm, cho ăn, xoay trở và dõi theo từng nhịp thở. Họ đang lấp vào khoảng trống chăm sóc ngày càng lớn khi Việt Nam bước nhanh vào xã hội già hóa.
- Mưa lũ khiến nhiều sông duy trì mức báo động cao
- Bão Narra đứng yên, Quảng Tây sơ tán 54.000 người
- Bốn hệ thống nhiệt đới cùng lúc, Thái Bình Dương có gì bất thường?
Trời còn tờ mờ, khi nhiều căn nhà còn đóng cửa, người chăm sóc đã thức dậy bên một người bệnh gần như mất khả năng tự chủ. Một đêm nữa trôi qua bằng những lần kiểm tra hơi thở, thay đổi tư thế, vệ sinh và cho ăn. Với họ, ngày làm việc không bắt đầu khi trời sáng và cũng không kết thúc khi phố lên đèn.
Những người chăm sóc thuê như vậy đang đứng ở một khoảng trống khó gọi tên trong hệ thống chăm sóc dài hạn tại Việt Nam. Khi dân số già hóa nhanh, gia đình nhỏ đi và nhu cầu chăm sóc người cao tuổi, người bệnh phụ thuộc tăng lên, công việc vốn được thực hiện âm thầm trong từng căn phòng đang trở thành một phần không thể thiếu của đời sống đô thị.
Một ngày bắt đầu khi người khác còn đang ngủ
Với người bệnh liệt sau đột quỵ, những thao tác tưởng nhỏ lại trở thành công việc kéo dài cả ngày. Xoay người để tránh tổn thương do nằm lâu, thay bỉm, lau rửa, chuẩn bị thức ăn, cho uống thuốc, xoa bóp tay chân rồi quan sát từng thay đổi bất thường là chuỗi việc lặp đi lặp lại.

Người chăm sóc thuê không chỉ dùng sức. Họ phải học cách nhận biết những dấu hiệu mà người bệnh không còn đủ khả năng nói ra: một nhịp thở khác thường, một ánh mắt, một tiếng động nhỏ trong đêm hay sự thay đổi ở cách nuốt thức ăn. Trong hệ thống chăm sóc người cao tuổi hiện nay, tình trạng thiếu kỹ năng và đào tạo chuyên môn cho lực lượng chăm sóc vẫn được các nghiên cứu ghi nhận.
Các nghiên cứu quốc tế về chăm sóc người bệnh phụ thuộc chức năng cho thấy gánh nặng thời gian có thể rất lớn. Qua thực tế cho thấy, nhóm bệnh nhân phụ thuộc cao cần tới rất nhiều giờ chăm sóc mỗi tuần và thời lượng này còn tăng theo thời gian sau đột quỵ.
Ở Việt Nam, vấn đề càng đáng chú ý khi hệ thống chăm sóc dài hạn vẫn đang trong quá trình hình thành. Nghiên cứu trên International Health công bố năm 2025 nhận định hệ thống chăm sóc dài hạn tại Việt Nam còn ở giai đoạn đầu, trong khi phần lớn người cao tuổi vẫn phải dựa vào gia đình và nguồn lực cá nhân.
Khi xã hội già đi, nhu cầu chăm sóc cũng đổi khác
Việt Nam đang già hóa nhanh. Nghiên cứu International Health năm 2025 cũng dẫn số liệu năm 2024, theo đó người từ 60 tuổi trở lên chiếm khoảng 14% dân số.
Đằng sau những con số ấy là một thay đổi rất cụ thể trong đời sống gia đình. Người cao tuổi có thể sống lâu hơn nhưng đồng thời mắc nhiều bệnh mạn tính, hạn chế vận động hoặc cần hỗ trợ trong các sinh hoạt hàng ngày. Trong khi đó, con cái ngày càng phải làm việc xa nhà, thời gian dành cho cha mẹ không phải lúc nào cũng đủ để đảm nhận toàn bộ việc chăm sóc.
Một nghiên cứu về chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam công bố trên International Health cho thấy các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi hiện vẫn hạn chế, đặc biệt ở những khu vực khó tiếp cận. Các chuyên gia được phỏng vấn cũng chỉ ra những vấn đề về nguồn lực, đào tạo người chăm sóc và khả năng phối hợp giữa các lực lượng y tế, xã hội.
Khoảng trống ấy cũng làm gia tăng nhu cầu đối với dịch vụ chăm sóc thuê, khi nhiều gia đình không đủ điều kiện tự đảm nhận toàn bộ việc chăm sóc người bệnh. Nhiều người nhận công việc thông qua các mối quan hệ quen biết hoặc giới thiệu, sau đó sống cùng người bệnh trong nhiều ngày, nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng.
Công việc này không đồng nghĩa với khám, chữa bệnh hay điều dưỡng. Người chăm sóc thuê chủ yếu hỗ trợ bệnh nhân phụ thuộc trong các sinh hoạt hằng ngày.
Một nghề đứng ngoài những khung chính thức
Điều đáng chú ý là khoảng cách giữa vai trò thực tế và sự công nhận chính thức. Người chăm sóc thuê có thể phải thức nhiều lần trong đêm nhưng không phải lúc nào cũng có ca trực, ngày nghỉ hay ranh giới rõ ràng giữa thời gian làm việc và thời gian riêng tư.
Nghiên cứu về chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam cho thấy những người chăm sóc không chính thức phải đối mặt với gánh nặng thể chất và tâm lý đáng kể. Một nghiên cứu công bố trên International Health năm 2025 cũng ghi nhận bất bình đẳng trong tiếp cận chăm sóc, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu mở rộng các dịch vụ chăm sóc tại nhà và các chương trình dựa vào cộng đồng.

Đáng chú ý hơn, các chuyên gia tham gia nghiên cứu cho rằng việc mở rộng bảo hiểm và chính sách an sinh cần đi cùng những dịch vụ như chăm sóc tại nhà, thăm khám tại nhà và các chương trình hỗ trợ được tổ chức ngay trong cộng đồng. Đây là hướng tiếp cận có thể giảm bớt khoảng cách giữa nhu cầu thực tế của người cao tuổi và khả năng đáp ứng của hệ thống hiện nay.
Với người làm thuê, câu chuyện còn liên quan đến thu nhập. Họ nhận tiền để chăm sóc một người không phải thân nhân, nhưng khi rời khỏi căn phòng ấy, những kỹ năng và thời gian đã bỏ ra chưa chắc được ghi nhận như một năng lực nghề nghiệp.
Trong khi đó, một số nghiên cứu quốc tế về người chăm sóc cho thấy sức khỏe của chính người chăm sóc là yếu tố quan trọng để duy trì hoạt động chăm sóc lâu dài. Gánh nặng kéo dài có thể ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và chất lượng cuộc sống của họ.
Bởi vậy, câu hỏi không chỉ là ai sẽ chăm người bệnh, mà còn là ai sẽ chăm sóc những người đang chăm sóc người bệnh.
Khoảng trống của gia đình không thể mãi được lấp bằng sự hy sinh
Trong văn hóa Việt Nam, việc con cái chăm sóc cha mẹ vẫn mang ý nghĩa đặc biệt. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy định kiến xã hội đối với các cơ sở dưỡng lão vẫn tồn tại, bởi nhiều người vẫn xem việc đưa cha mẹ vào cơ sở chăm sóc như một dấu hiệu của sự bỏ rơi.
Nhưng khi tuổi thọ tăng, gia đình ít người hơn và khoảng cách địa lý lớn hơn, mô hình chỉ dựa vào người thân ngày càng gặp giới hạn. Chính nghiên cứu về hệ thống chăm sóc dài hạn tại Việt Nam cho rằng các mô hình chăm sóc tại cộng đồng và chăm sóc tại nhà cần được mở rộng để đáp ứng nhu cầu của xã hội đang già hóa.
Điều đó không có nghĩa gia đình sẽ mất vai trò. Ngược lại, một hệ thống tốt hơn có thể giúp gia đình giữ vai trò ấy mà không phải tự mình gánh toàn bộ công việc. Người cao tuổi vẫn có thể ở nhà, nhưng phía sau họ có thể là nhân viên chăm sóc được đào tạo, nhân viên y tế cộng đồng, dịch vụ thăm khám tại nhà và những cơ chế bảo hiểm phù hợp.
Đó cũng là hướng mà các chuyên gia y tế – xã hội được nghiên cứu tại Việt Nam đề xuất: tăng cường chăm sóc dựa vào cộng đồng, mở rộng dịch vụ tại nhà, đào tạo và hỗ trợ lực lượng chăm sóc, đồng thời ưu tiên những nhóm dễ bị bỏ lại phía sau.
Những người chăm sóc thuê vì thế không chỉ là một nhóm lao động đứng bên ngoài hệ thống. Họ đang cho thấy hệ thống ấy đang thiếu gì.
Một ngày nào đó, khi Việt Nam bước sâu hơn vào xã hội già, nhu cầu về những đôi tay biết thay bỉm, nâng người bệnh, cho ăn và thức dậy giữa đêm sẽ không biến mất. Điều cần thay đổi có lẽ là cách xã hội nhìn nhận những đôi tay ấy: không còn như một công việc tạm bợ được thực hiện trong những căn phòng kín, mà như một mắt xích cần được đào tạo, bảo vệ và gọi đúng tên.
Đêm vẫn sẽ có những lần người bệnh trở mình. Nhưng hy vọng khi ấy, người ngồi bên giường sẽ không còn phải tự mình gánh cả một khoảng trống mà đáng lẽ thuộc về một hệ thống chăm sóc hoàn chỉnh.
Trường Anh (tổng hợp)
