Đồng Nai — Dự án nhà máy xử lý rác phát điện gần 2.300 tỷ đồng được xác định là dự án PPP duy nhất trong lĩnh vực xử lý rác theo thống kê sơ bộ, nhưng đã bị dừng chủ trương đầu tư.
- Bão số 4 bất ngờ đổi hướng, xa dần đất liền Việt Nam
- Bắt hai nghi phạm bị cáo buộc dụ người sang Lào
- Đặc sản xứ Thanh tìm được chỗ đứng tại hội chợ Hà Tĩnh
Chiều 24/8, tại hội thảo “Mô hình hợp tác công tư trong dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt”, ThS Nguyễn Thị Thu Hà, Phó chánh Văn phòng PPP thuộc Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Tài chính), cho biết khoảng 75% dự án PPP tại Việt Nam tập trung vào giao thông. Trong khi đó, lĩnh vực xử lý rác chỉ có một dự án được thống kê, nhưng công trình này đã bị HĐND TP Đồng Nai thông qua nghị quyết dừng chủ trương đầu tư tại kỳ họp chuyên đề ngày 14/8.
Dự án Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt phát điện được quy hoạch tại xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, nay là xã Tân An, tỉnh Đồng Nai. Công trình có tổng vốn đầu tư khoảng 2.286 tỷ đồng theo phương thức PPP, diện tích khoảng 12ha trong khu xử lý rác rộng 50ha đã được phê duyệt.
HĐND tỉnh Đồng Nai chấp thuận chủ trương đầu tư dự án ngày 22/9/2022, trên cơ sở đề xuất của liên danh Công ty CP Le Delta và Công ty CP Thương mại Đầu tư Công nghệ Ecotech Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị đầu tư kéo dài và nhà đầu tư không hoàn thành hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi dù đã được gia hạn nhiều lần.
Theo Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND TP Đồng Nai, hồ sơ do liên danh nhà đầu tư lập chưa bảo đảm chất lượng và không đáp ứng các quy định pháp luật hiện hành. Trước đó, ngày 19/12/2025, UBND tỉnh Đồng Nai đã có văn bản chỉ đạo dừng thực hiện dự án.
Sau khi HĐND TP Đồng Nai thông qua nghị quyết, UBND thành phố được giao hoàn tất thủ tục dừng dự án và xử lý các nghĩa vụ tài chính theo quy định. Cơ quan này đồng thời phải rà soát hồ sơ, quy hoạch để có thể kế thừa cho những dự án xử lý rác mới, qua đó hạn chế nguy cơ lãng phí nguồn lực đã thực hiện.
Tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng một trong những rào cản lớn của PPP xử lý rác là cam kết về khối lượng chất thải đầu vào. Nhiều địa phương chưa có đủ căn cứ để xác định lượng rác cam kết và cũng thiếu cơ chế xử lý khi lượng thực tế thấp hơn mức ban đầu do thay đổi dân số hoặc thành phần chất thải sau phân loại tại nguồn.
Một vấn đề khác nằm ở giá dịch vụ xử lý rác. Mức giá hiện chưa cân đối giữa khả năng ngân sách địa phương và số tiền thực tế hộ gia đình phải trả, khiến phương án tài chính của dự án khó khả thi và ngân hàng thiếu cơ sở để cấp tín dụng.
TS Nguyễn Đình Trọng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam, chỉ ra một nghịch lý trong cách xác định giá dịch vụ: những địa phương nghèo, vùng sâu xa thường có lượng rác ít và muốn chi phí xử lý thấp, trong khi đây lại là những khu vực khiến nhà đầu tư phải chịu chi phí logistics cao hơn.
Theo ông Trọng, nơi có ít rác vốn đã kém hấp dẫn về đầu tư, nhưng nếu giá dịch vụ tiếp tục thấp hơn đáng kể so với các thành phố lớn thì doanh nghiệp càng khó tham gia. Ông đề xuất cơ quan quản lý xây dựng khung đơn giá theo hướng địa phương càng có ít rác thì giá xử lý càng phải cao để bù đắp chi phí.
Thực tế, nhiều dự án xử lý rác quy mô lớn hiện chuyển sang mô hình đầu tư tư nhân thuần túy thay vì PPP. Với cách này, nhà đầu tư chủ yếu đóng vai trò nhà thầu và không phải gánh các ràng buộc dài hạn về lượng rác hay cơ chế phân bổ rủi ro với chính quyền địa phương.
Bà Hà cho rằng cần xác định rõ phương thức huy động vốn tư nhân phù hợp với từng dự án và phân bổ rủi ro cho bên có khả năng kiểm soát rủi ro đó tốt hơn. Đối với lượng và thành phần chất thải đầu vào, đây là yếu tố phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý địa bàn của chính quyền.
“Việc chuyển rủi ro trên sang nhà đầu tư sẽ làm tăng chi phí vốn của dự án, cuối cùng vẫn do ngân sách nhà nước chi trả thông qua giá dịch vụ”, bà Hà nhận định.
PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, đề xuất thay cách tiếp cận từ “phí thu gom rác” sang “giá dịch vụ quản lý và xử lý chất thải”. Theo ông, cơ chế này cần gắn với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và cho phép điều chỉnh giá theo CPI cùng giá điện.
Lê Hà NA (tổng hợp)
