Đại biểu Quốc hội Trần Nhật Minh (Nghệ An) đề nghị bổ sung quy định xử lý tài sản trên đất của dự án đầu tư chậm tiến độ và cơ chế giải quyết đất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.
- Nghệ An niêm yết giá bán lô 19 món vàng trang sức bị tịch thu
- Nữ sinh viên được phát hiện bất động trong nhà vệ sinh
- Bãi sậy sông Đầm giữ chân đàn cò suốt hàng chục năm
Ý kiến được nêu tại Hội trường trong phiên thảo luận sáng 29/10 về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), sau khi đại biểu nghiên cứu dự thảo Luật và dự thảo Nghị định hướng dẫn kèm hồ sơ dự án. Theo đại biểu, mục tiêu là tránh lãng phí nguồn lực xã hội và bảo đảm sinh kế cho đồng bào.
Về dự án chậm tiến độ, đại biểu cho rằng điểm b khoản 7 Điều 36 dự thảo Luật và Điều 61 dự thảo Nghị định mới gỡ vướng về đất đai, chưa giải quyết phần tài sản gắn liền với đất. Đại biểu viện dẫn khoản 5 Điều 36 Luật Đầu tư hiện hành và cho rằng những vướng mắc này khiến các địa phương lúng túng với các dự án dang dở như dự án đầu tư phát triển nhà ở.
Nếu buộc thanh lý, tháo dỡ tài sản trên đất, xã hội có thể chịu lãng phí lớn. Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ bổ sung quy định xử lý tài sản vào dự thảo Nghị định, nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 21 của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, trong đó yêu cầu: “Có chế tài cụ thể và đồng bộ để xử lý các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc chậm sử dụng”.
Đất ở, đất sản xuất của đồng bào trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
Về đất sản xuất, đại biểu cho biết khoản 4 Điều 15 và khoản 2, khoản 3 Điều 83 dự thảo Luật mới nêu chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số và việc xử lý đất từ các nông, lâm trường quốc doanh, chưa đề cập đất do ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ quản lý. Qua khảo sát và tiếp xúc cử tri, đại biểu nhận thấy có đất ở, đất sản xuất người dân sử dụng ổn định từ trước khi quy hoạch rừng nhưng chưa được tách hết, còn các bãi đất bằng xen kẽ khe suối, ruộng nước thì không đủ điều kiện bóc tách và chưa có cơ chế xử lý.
Tại huyện Tương Dương (cũ), tỉnh Nghệ An, diện tích tự nhiên là 2.812,07km² nhưng đất nông nghiệp chỉ chiếm 0,32%, tương đương 901,09ha, nên việc tạo quỹ đất sản xuất và sinh kế cho người dân gặp nhiều khó khăn.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào dự thảo Luật chính sách đối với đất người dân đã sử dụng ổn định trước khi thành lập khu rừng. Theo đó, sau khi đất được điều chỉnh ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp, ban quản lý rừng sẽ bàn giao về UBND cấp xã để giao đất, công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng.
Với đất canh tác manh mún, nhỏ lẻ không đủ điều kiện bóc tách, đại biểu đề nghị đưa vào dự thảo Nghị định cơ chế cho tiếp tục sử dụng có điều kiện. Người dân được sử dụng ổn định theo hiện trạng, không mở rộng diện tích, chuyển nhượng hay chuyển mục đích và phải chấp hành quy định bảo vệ rừng, nếu vi phạm thì Nhà nước sẽ thu hồi.
Theo đại biểu, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi người dân có đủ đất phù hợp để sản xuất, có nguồn lực tổ chức sản xuất và có cơ chế bảo đảm thực hiện đến cùng.
Nguyễn Quế (tổng hợp)
