Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang cũ (TP Đà Nẵng) giải quyết tranh chấp ly hôn giữa ông N. và bà A., xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của người chồng, còn căn nhà hai tầng được xác định là tài sản chung và chia đôi giá trị.
- Truy tìm 4 người trong vụ án tổ chức đánh bạc
- Hoàng Tài Hiếu bị truy tố sau hơn 13 năm trốn nã
- Hai đêm giữa biển và ngày trở về của người ngư dân
Ông N. và bà A. kết hôn năm 2011, có một con chung. Do phát sinh mâu thuẫn, hai người ly thân từ năm 2019. Khi giải quyết ly hôn, các bên không chỉ bất đồng về quyền nuôi con mà còn tranh chấp việc phân chia nhà đất và nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ.
Tòa phân định tài sản riêng, tài sản chung và nợ của vợ chồng khi ly hôn
Thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 11/1/2016. Trên thửa đất này, hai vợ chồng xây dựng một căn nhà hai tầng trong thời kỳ hôn nhân.
Về việc nuôi con, ông N. đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bà A. cấp dưỡng. Trong khi đó, bà A. cũng mong muốn được nuôi con, cho rằng mình có công việc ổn định, thu nhập bình quân 8 triệu đồng mỗi tháng, còn ông N. không có việc làm ổn định.
Đối với căn nhà hai tầng, cả ông N. và bà A. đều thừa nhận đây là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, ông N. cho rằng mình có công sức đóng góp nhiều hơn nên đề nghị được hưởng 7 phần giá trị căn nhà, còn bà A. hưởng 3 phần. Bà A. không đồng ý với phương án này, yêu cầu chia đôi tài sản chung theo quy định pháp luật và nhận phần giá trị được hưởng bằng tiền.
Về quyền sử dụng đất, ông N. khẳng định đây là tài sản riêng do cha tặng cho nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Ngược lại, bà A. cho rằng cha mẹ chồng tặng đất cho cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, bà không đưa ra được chứng cứ chứng minh quan điểm của mình. Cha ông N. cũng xác nhận chỉ tặng đất cho riêng con trai. Bà A. không chứng minh được hai vợ chồng từng thỏa thuận nhập quyền sử dụng đất vào khối tài sản chung. Vì vậy, tòa án không chấp nhận yêu cầu chia đôi quyền sử dụng đất.
Đối với căn nhà, tòa án nhận định công trình được xây dựng bằng tiền vay mượn và vật liệu mua chịu. Sau khi xây nhà, ông N. đảm nhiệm việc trả nợ, trong khi bà A. lo chi phí ăn uống, sinh hoạt và nuôi con. Trên cơ sở xem xét công sức đóng góp của mỗi người, tòa xác định căn nhà là thành quả chung của hai vợ chồng và việc chia đôi giá trị tài sản là hợp lý.
Về nghĩa vụ tài chính .Ông N. trình bày vợ chồng có nhiều khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, gồm nợ tiền mua vật liệu xây dựng, nợ bà Tr. và khoản vay bà P. Tuy nhiên, tòa chỉ xác định khoản nợ công ty vật liệu xây dựng và khoản nợ bà Tr. là nợ chung; khoản 50 triệu đồng vay bà P. là nợ riêng của ông N. Bà A. không đồng ý vì cho rằng chưa có căn cứ xác định đây là nợ chung.
Theo thông tin từ công ty vật liệu xây dựng, từ ngày 21/3 đến ngày 28/8/2016, vợ chồng ông N. mua vật liệu với tổng giá trị hơn 206 triệu đồng, đã thanh toán 22 triệu đồng và còn nợ hơn 184 triệu đồng. Bà A. thừa nhận có mua vật liệu nhưng cho rằng khoản tiền này đã được thanh toán đầy đủ, song không cung cấp được chứng cứ chứng minh.
Tòa án nhận định ông N. là người trực tiếp quán xuyến việc xây nhà, từ mua vật liệu, chi tiêu đến thuê thợ. Trong điều kiện kinh tế của hai vợ chồng không đủ để chi trả toàn bộ chi phí xây dựng, việc mua chịu vật liệu và vay mượn thêm là cần thiết để hoàn thành căn nhà. Do đó, khoản nợ hơn 184 triệu đồng đối với công ty vật liệu xây dựng được xác định là nợ chung của vợ chồng.
Một khoản nợ khác gồm 30 triệu đồng và 5,1 chỉ vàng do bà Tr. cho vợ chồng ông N. mượn để xây nhà. Theo lời trình bày của bà Tr., khi hai bên bàn bạc về việc vay mượn, cả ông N. và bà A. đều có mặt. Tuy nhiên, tại thời điểm giao tiền và vàng, bà A. không ở nhà. Vì tình nghĩa chị em, bà Tr. không yêu cầu lập giấy vay nợ và cho biết bà A. biết về khoản vay này.
Tòa án xác định khoản nợ đối với bà Tr. cùng khoản nợ hơn 184 triệu đồng của công ty vật liệu xây dựng là nợ chung. Theo đó, mỗi người có trách nhiệm thanh toán một nửa các khoản nợ được xác định là nợ chung.
Đối với khoản vay 50 triệu đồng từ bà P., ông N. trình bày đã vay tiền để thanh toán các khoản nợ ngân hàng của hai vợ chồng. Tuy nhiên, ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh đây là khoản nợ chung. Tòa án xác định ông N. có trách nhiệm trả cho bà P. số tiền 50 triệu đồng.
Lê Hà NA (tổng hợp)
