Sau bão Kalmaegi và trận lũ lớn cuối năm 2025, người nuôi tôm hùm ở Sông Cầu, Đắk Lắk, từng bước khôi phục lồng bè và sinh kế. Tuy nhiên, chi phí tái đầu tư, nguy cơ thiên tai và những biến động của môi trường nước vẫn là thách thức đối với nghề nuôi biển.
- Dây điện trên đường 3 Tháng 2 và cái tên trong lệnh truy nã
- Thời tiết ngày 13/10: Miền Bắc nắng hanh, Nam Bộ có mưa giông
- Người tiểu đường có phải kiêng dứa? Chuyên gia chỉ cách ăn phù hợp
Khôi phục lồng bè, tìm cách giảm rủi ro sau thiên tai
Dọc tuyến đường ven biển phường Xuân Đài, người dân tất bật đan lưới, kiểm tra lồng bè và chèo thúng ra biển chăm sóc tôm. Sông Cầu, khu vực trước đây thuộc tỉnh Phú Yên, là địa bàn có nhiều hộ dân sống dựa vào nghề nuôi tôm hùm.
Tháng 11/2025, bão Kalmaegi (bão số 13) và trận lũ lớn từ ngày 19 đến 21/11 gây thiệt hại cho vùng nuôi thủy sản. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk được Báo Thanh Niên dẫn lại, phường Sông Cầu có hơn 61ha ao hồ bị thiệt hại, xã Xuân Lộc có 230ha diện tích ao bị ảnh hưởng và xã Tuy An Nam có 0,57ha ao nuôi bị hư hại. Các lồng bè cũng chịu tổn thất lớn. Ông Phan Văn Tỏ, 51 tuổi, ở phường Xuân Đài, đã có 26 năm gắn bó với nghề nuôi biển. Ông cho biết gia đình thiệt hại gần 400 triệu đồng sau bão lũ, chủ yếu là tôm hùm và cá mú.
“Gia đình tôi đầu tư từ 3 – 3,5 tỉ đồng cho bè nuôi tôm hùm, cá mú. Đợt bão số 13, sóng đánh hỏng bè, cuốn mất hệ thống camera, tôm chết rất nhiều. Sau bão lũ, gia đình đã kê khai thiệt hại với chính quyền địa phương”, ông Tỏ kể.

Sau tổn thất, gia đình ông tiếp tục đầu tư khoảng 1,5 tỉ đồng để đóng lại lồng bè và mua con giống cho vụ nuôi mới. Theo ông Phan Văn Tỏ, tôm giống nhỏ bằng hạt gạo hiện được gia đình ông mua với giá khoảng 40.000 đồng/con, so với mức 23.000–30.000 đồng/con trong năm 2025. Với quy mô 100 ô lồng, tổng diện tích khoảng 2.500m², chi phí đầu vào vì thế tăng đáng kể.
Do lồng bè kết hợp nuôi hàu có trọng lượng lớn, không thể cẩu lên bờ, ông phải thuê tàu kéo bè đến khu vực tránh trú khi dự báo có bão từ cấp 7-8 trở lên. Mỗi lần di chuyển tốn khoảng 10 triệu đồng, gồm chi phí tàu kéo và nhân công. Bên cạnh gió mạnh và sóng cao, người nuôi còn lo ngại sự thay đổi của môi trường nước. Mưa lớn kéo dài có thể khiến nước ngọt từ các cửa sông Kỳ Lộ đổ ra vùng vịnh nuôi, làm thay đổi điều kiện sống của tôm hùm và có nguy cơ gây chết tôm.
Môi trường đáy biển cũng là vấn đề cần quan tâm. Ông Tỏ cho biết một số hộ nuôi vẫn vứt bao bì thức ăn xuống biển. Theo phản ánh trong bản thảo, rác phân hủy dưới đáy có thể làm giảm ô xy; khi biển động, các chất tích tụ bị khuấy lên có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước và vật nuôi.
Ông Đào Quang Minh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Đắk Lắk, cho biết cơ quan quản lý đang cập nhật, điều chỉnh Đề án 190 và xây dựng lộ trình đến năm 2030 nhằm sắp xếp, di dời lồng bè đến những khu vực phù hợp với thực tế và quy hoạch chung của tỉnh. Việc quy hoạch vùng nuôi sẽ là cơ sở để hướng dẫn người dân lựa chọn đối tượng, loại hình nuôi và lịch thả giống phù hợp.
Từ đầu năm 2026, Chi cục đã ban hành văn bản hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng và triển khai kế hoạch phòng, chống thiên tai chuyên ngành nhằm hỗ trợ người dân bảo vệ lồng bè, con giống và hạn chế rủi ro khi xảy ra thiên tai hoặc sự cố môi trường. Tuy nhiên, bảo hiểm cho nghề nuôi biển vẫn là vấn đề khó giải quyết. Theo ông Đào Quang Minh, tại thời điểm trao đổi, tỉnh Đắk Lắk chưa có doanh nghiệp bảo hiểm triển khai gói bảo hiểm dành cho hoạt động nuôi trồng thủy sản. Một số đơn vị từng khảo sát nhưng không tiếp tục do đánh giá rủi ro cao và khó kiểm soát dữ liệu đầu vào.
Công tác thống kê thiệt hại để làm căn cứ xem xét hỗ trợ cũng gặp khó khăn. Chi cục phối hợp với các đơn vị liên quan và chính quyền xã, phường rà soát, nhưng một số hộ chưa kê khai ban đầu hoặc chưa kịp bổ sung thông tin khi có thay đổi, khiến việc xác minh dữ liệu mất nhiều thời gian. Theo số liệu trong bản thảo, Đắk Lắk có 161.703 lồng, bè của 5.131 hộ nuôi trồng thủy sản. Trong đó, phường Xuân Đài có 30.309 lồng, bè của 674 hộ; phường Sông Cầu có 74.183 lồng, bè của 1.875 hộ. Sản lượng nuôi lồng bè trong 9 tháng năm 2026 ước đạt 3.143 tấn, gồm 1.730 tấn tôm hùm và 1.413 tấn cá biển.
Sau thiên tai, người nuôi tôm hùm ở Sông Cầu đang từng bước dựng lại lồng bè và khôi phục sản xuất. Để sinh kế này ổn định hơn, cần kết hợp nỗ lực của người dân với quy hoạch vùng nuôi, hướng dẫn kỹ thuật, quản lý môi trường và những giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro.
Hoàng Hà (tổng hợp)
