Nghệ An – Các giáo viên Trường Mầm non Mỹ Lý 2 vẫn bám điểm trường, vượt qua những đoạn đường cách trở để duy trì lớp học cho trẻ ở các bản vùng biên.
- Chủ nhà 72 tuổi tử vong ở Phước Hải, vợ con rể bị thương nặng
- Nông dân dầm mình cứu lúa chín nảy mầm
- Buổi sáng kết thúc bằng một mất mát không thể trở lại
Trước thềm năm học mới, cầu tạm Yên Hòa ở xã Mỹ Lý bị lũ cuốn trôi, khiến hơn 200 hộ dân tại các bản Yên Hòa, Nhọt Lợt và Piêng Pèn bị cô lập. Với giáo viên được phân công lên các điểm trường, việc di chuyển vì thế thêm gian nan, có khi phải đi vòng hàng chục km hoặc cùng người dân khiêng xe máy qua những khe nước chảy xiết.
Tại điểm trường Nhọt Lợt, cô Lương Thị Huế chuẩn bị cho những chuyến lên bản bằng lương thực đủ dùng nhiều ngày, bởi đường về trung tâm xã có thể bị gián đoạn khi mưa lớn. “Cầu mất rồi, giáo viên phải phụ thuộc vào thuyền để qua sông. Nếu đi người không là 20.000 đồng, đưa cả xe máy sang bờ bên kia thì 50.000 đồng/chuyến. Những ngày nước dâng cao, giá còn đắt hơn nữa”, cô Huế chia sẻ.
Nếu không qua sông bằng thuyền, các cô phải đi vòng thêm hàng chục km, thời gian di chuyển có thể kéo dài gần 5 giờ. Nhiều đoạn khe, suối nước chảy mạnh khiến giáo viên phải cùng người dân gồng sức đưa xe qua.
Cô Huế cho biết vào mùa mưa, mỗi lần lên điểm trường, giáo viên thường mang theo cá khô, mắm, muối và mì tôm để chủ động sinh hoạt trong những ngày bị chia cắt. “Vào tới điểm trường nhiều lúc tủi thân mà bật khóc”, cô Huế tâm sự.
Ở lại giữa những điểm trường thiếu thốn
Không chỉ đường đi khó khăn, nhiều điểm trường lẻ tại Mỹ Lý còn thiếu những điều kiện sinh hoạt và dạy học cơ bản.

Cô Lô Thị Bích, người đã có hơn 20 năm công tác tại Mỹ Lý, từng luân phiên làm việc ở nhiều điểm trường. Với giáo viên vùng cao, chuyện ở lại điểm trường cả tuần rồi cuối tuần mới trở về nhà đã trở thành nếp quen. “Điểm Xốp Dương không có điện lưới, sóng điện thoại lúc có lúc không. Giáo viên ở lại điểm trường, cùng sống với dân bản, với các cháu suốt nhiều năm qua”, cô Bích nói.
Tại bản Cha Nga, cách trung tâm xã gần 30km, cô Lô Thị Chai phụ trách điểm mầm non cắm bản. Xe máy chỉ có thể đi khoảng 10km đầu tuyến, sau đó giáo viên phải gửi xe nhờ nhà dân rồi tiếp tục đi bộ, lội suối. “Cha Nga là bản không điện lưới, không sóng điện thoại, không Internet. Mang điện thoại vào đây nhiều khi chỉ để xem lại ảnh của con và gia đình”, cô Chai kể.
Phần lớn hộ dân tại Cha Nga sử dụng hoặc được hỗ trợ máy bộ đàm cầm tay để giữ liên lạc. Khi học sinh bị ốm hoặc sốt bất thường, giáo viên có thể thông báo cho phụ huynh qua thiết bị này. Một đơn vị thiện nguyện đã hỗ trợ hệ thống điện năng lượng mặt trời, nhưng nguồn điện chỉ đủ phục vụ việc dạy học trong giờ lên lớp. Vì vậy, các cô vẫn chủ yếu sử dụng tranh ảnh và đồ dùng trực quan thay cho những thiết bị hiện đại.
Sau giờ dạy, những thiếu thốn tiếp tục hiện diện trong sinh hoạt của giáo viên. Không có công trình phụ và nguồn nước sạch, các cô phải tắm giặt ở khe suối gần bản; những ngày rét, nước lạnh đến mức phải gánh về đun rồi mới sử dụng.
Không có nhà công vụ, các cô tận dụng căn nhà gỗ làm nơi ở, còn phòng kho được dọn thành chỗ ngủ. Buổi tối, khi học sinh về nhà, họ tranh thủ soạn giáo án dưới ánh sáng từ chiếc “điện cù” lấy sức nước dưới suối. Những nữ giáo viên gửi con nhỏ cho ông bà hoặc chồng chăm sóc để lên bản công tác cũng phải làm quen với những ngày xa gia đình. Muốn gọi điện về nhà, họ phải tìm nơi có sóng.
“Nhớ nhà cũng không thể làm gì. Muốn liên lạc phải đi ra ngoài bản, may mắn có điểm sóng rơi thì mới gọi về được”, cô Chai chia sẻ.
Theo bà Kha Thị Thảo, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Mỹ Lý 2, năm học này trường dự kiến có hơn 120 học sinh, phần lớn là con em đồng bào dân tộc Thái, học tại một điểm trường chính và 6 điểm trường lẻ ở các bản Nhọt Lợt, Piêng Pèn, Cha Nga, Xốp Dương… Địa hình cách trở khiến nhà trường phải duy trì các điểm trường lẻ để trẻ ở bản có thể đến lớp, dù nhiều nơi vẫn thiếu điện, sóng điện thoại, Internet và cơ sở vật chất.
“Giáo viên muốn đến được với học sinh phải vượt qua rất nhiều khó khăn. Nhà trường động viên các cô bám bản, bám lớp, bởi nếu giáo viên không vào thì các cháu ở bản không có điều kiện đến trường”, bà Thảo nói. Ở những bản vùng biên, hành trình của giáo viên không chỉ là đến lớp đúng giờ. Đó còn là việc mang theo giáo án, lương thực và sự kiên trì để giữ cho những lớp học giữa núi rừng không vắng tiếng trẻ thơ.
Nguyễn Hiền (tổng hợp)
