Giáo sư Ngô Vĩnh Long: Người Việt đầu tiên học cử nhân tại Harvard

Năm 1964, Giáo sư Ngô Vĩnh Long đã trở thành người Việt đầu tiên trúng tuyển hệ cử nhân Harvard tại Mỹ. Một trong những biểu tượng lớn của giáo dục đại học trên thế giới. 

Giáo sư Ngô Vĩnh Long – Người Việt Nam đầu tiên học tại Harvard

Giáo sư Ngô Vĩnh Long sinh năm 1944 tại tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình hiếu học. Gia đình ông sau đó chuyển vào xóm nghèo Bàn Cờ ở Sài Gòn sinh sống. Dù sống trong căn nhà tranh vách đất, cha ông luôn khuyến khích các con đọc sách. Tư duy tiến bộ của người cha đã tạo động lực lớn cho ông vươn lên.

Lúc mới 6 tuổi, ông cùng cha đi bộ 160km lên Sài Gòn mua sách tiếng Anh. Hai cha con dành trọn một năm để học thuộc cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens. Nhờ đó, ông sớm có nền tảng ngoại ngữ vững chắc cho con đường du học sau này. Đây chính là bước đệm quan trọng để ông tiếp cận với tri thức thế giới.

Năm 1964, ông xuất sắc nhận học bổng toàn phần từ Harvard College danh giá. Đây là lần đầu tiên một người Việt trúng tuyển hệ cử nhân tại ngôi trường này. Khi đặt chân tới Mỹ, ông không chỉ tập trung vào việc học tập chuyên môn. Ông còn hăng hái tham gia nhiều hoạt động và phong trào phản đối chiến tranh.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long: nhà sử học tài năng luôn hướng về cội nguồn

Ông bắt đầu sự nghiệp sử học với các công trình nghiên cứu về nông dân. Tác phẩm tiêu biểu xuất bản năm 1973 phân tích sâu sắc về đời sống thời Pháp thuộc. Năm 1978, ông nhận bằng Tiến sĩ ngành Lịch sử Đông Á từ Đại học Harvard. Ông nhanh chóng trở thành một chuyên gia uy tín trên nhiều diễn đàn khoa học.

Sau chiến tranh, ông thường xuyên trở về Việt Nam thực hiện các chuyến điền dã. Ông cũng trực tiếp giảng dạy tại Đại học Quốc gia Hà Nội và Kinh tế quốc dân,. Giai đoạn 2000-2001, ông tham gia chương trình Fulbright để truyền đạt kinh nghiệm cho sinh viên. Ông luôn tận tâm chia sẻ những phương pháp nghiên cứu hiện đại cho thế hệ trẻ.

Ông luôn giữ liên hệ chặt chẽ với cộng đồng nghiên cứu sử học trong nước. Ông qua đời năm 2022 tại Mỹ sau một thời gian chống chọi với bạo bệnh. Di sản của ông là tư duy mở và tầm nhìn về một thế giới công bằng. Giới học thuật luôn nhớ về ông như một trí thức kiên định với lý tưởng

Theo: CAFEF