Xuất khẩu cá ngừ Việt Nam trở lại đà tăng

TP.HCM, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 544 triệu USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước.

Riêng tháng 7, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 90 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ. Mức tăng này giúp ngành cá ngừ chuyển từ giảm 2% sau 6 tháng sang tăng trưởng dương.

Xuất khẩu sang Mỹ trong tháng 7 đạt 37,6 triệu USD, tăng hơn 80% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng, thị trường này đạt 213,6 triệu USD, tăng 6,3% và chiếm 39,3% tổng kim ngạch cá ngừ cả nước.

Sau thời gian sụt giảm trong phần lớn các tháng đầu năm, xuất khẩu sang Mỹ tăng mạnh trong tháng 6 và 7. Diễn biến này tạo lực kéo đáng kể cho kết quả chung của ngành.

Thị trường tăng tốc giữa áp lực thuế mới

Đà tăng xuất khẩu sang Mỹ diễn ra trong bối cảnh chính sách thương mại của nước này có thay đổi. Ngày 23/7/2026, Mỹ chính thức áp dụng hành động theo Mục 301 đối với 60 nền kinh tế liên quan đến chính sách kiểm soát hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Việt Nam nằm trong nhóm chịu mức thuế bổ sung 12,5% đối với phần lớn hàng hóa không được miễn trừ. Mức thuế này cao hơn mức 10% áp dụng với Ecuador, Indonesia, Mexico và Ấn Độ.

Nhìn trong dài hạn, cá ngừ vẫn là nhóm hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ ba của thủy sản Việt Nam, sau tôm và cá tra. Giai đoạn 2019-2023, kim ngạch tăng từ 719 triệu USD lên 845 triệu USD, tương đương 17%, với tốc độ bình quân khoảng 3% mỗi năm.

Năm 2024, xuất khẩu cá ngừ đạt 989 triệu USD, tăng 17% so với năm trước. Sang năm 2025, kim ngạch giảm còn 924 triệu USD, thấp hơn 7% so với năm 2024.

Tại Mỹ, xuất khẩu cá ngừ năm 2025 đạt khoảng 331 triệu USD, chiếm gần 36% tổng kim ngạch nhưng giảm gần 15% so với năm 2024. Nhóm thịt và loin cá ngừ đông lạnh, mã HS0304, giảm mạnh nhất, trong khi cá ngừ đóng hộp vẫn giữ mức ổn định.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang EU năm 2025 tăng 5% so với năm 2024, đạt gần 207 triệu USD. Kết quả này cho thấy diễn biến xuất khẩu có sự khác biệt giữa các thị trường.

Cá ngừ Việt Nam hiện có mặt tại hơn 100 thị trường trên thế giới. Mỹ, EU, Trung Đông và các nước CPTPP là bốn thị trường lớn, chiếm 82-86% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Các loài chủ lực gồm cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá ngừ vằn. Nguồn lợi tập trung chủ yếu tại vùng biển miền Trung và khu vực trung tâm Biển Đông, với trữ lượng ước tính trên 600 nghìn tấn.

Theo VASEP, cá ngừ vằn chiếm hơn một nửa tổng nguồn lợi cá nổi của Việt Nam, với sản lượng khai thác hằng năm trên 200 nghìn tấn. Cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to có trữ lượng bình quân trên 45 nghìn tấn, sản lượng khai thác dao động 17.000-21.000 tấn mỗi năm.

Hai loài này tập trung khai thác từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau. Trong khi đó, cá ngừ vằn được khai thác quanh năm.

Những năm gần đây, Việt Nam tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về khai thác thủy sản bền vững. Trong đó có quy định chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) của EU cùng nhiều tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế khác.

Các tiêu chuẩn này hướng tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu cá ngừ trong thời gian tới.

Phạm Mai (tổng hợp)