Thịt nhập khẩu tăng, người nuôi trong nước chịu sức ép giá

Năm 2026, lượng thịt và sản phẩm từ thịt nhập khẩu vào Việt Nam tiếp tục tăng. Trong 5 tháng đầu năm, doanh nghiệp đã nhập khoảng 408.500 tấn, trị giá 1,2 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng và 39,6% về giá trị so với cùng kỳ. Trong khi nguồn hàng nhập khẩu mở rộng, giá nhiều sản phẩm chăn nuôi trong nước lại đi xuống.

Theo thống kê sơ bộ từ Cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi 928,8 triệu USD nhập khẩu thịt và sản phẩm từ thịt, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm trước. Riêng thịt lợn và sản phẩm từ thịt lợn đạt 163,2 triệu USD. Đến hết tháng 5, lượng nhập khẩu đạt khoảng 408.500 tấn, trị giá khoảng 1,2 tỷ USD. Lượng hàng tăng 11,4%, trong khi giá trị tăng tới 39,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm thịt và phụ phẩm ăn được của gia cầm, thịt trâu đông lạnh, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh, phụ phẩm của lợn, trâu, bò và thịt bò.

Nguồn hàng nhập khẩu tiếp tục mở rộng

Ấn Độ là nguồn cung lớn nhất trong 5 tháng đầu năm, với khoảng 92.300 tấn, trị giá 390,6 triệu USD, chiếm 22,6% tổng lượng nhập khẩu. So với cùng kỳ, lượng nhập từ thị trường này tăng 33%, còn giá trị tăng 63,2%. Việt Nam cũng nhập thịt từ Mỹ, Brazil, Tây Ban Nha, Canada, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản và Slovenia. Cơ cấu nguồn hàng khá đa dạng, trong đó thịt và phụ phẩm gia cầm chiếm 37,8% tổng lượng nhập khẩu trong 5 tháng.

Thịt trâu đông lạnh chiếm 21,1%, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 14,5%, phụ phẩm ăn được của lợn, trâu, bò chiếm 15,6% và thịt bò khoảng 6%.

Riêng thịt lợn, Việt Nam nhập khoảng 59.200 tấn trong 5 tháng, trị giá 128,3 triệu USD. Lượng nhập tăng 2,5% nhưng giá trị giảm 16% so với cùng kỳ. Diễn biến này cho thấy giá nhập khẩu bình quân của mặt hàng này đã giảm so với năm trước.

Khoảng 271.100 tấn thịt và sản phẩm từ thịt được Việt Nam nhập khẩu trong quý II/2026. (Ảnh minh họa: NAM)

Nguồn hàng từ bên ngoài vì vậy không còn là một phần nhỏ trong thị trường thịt. Với doanh nghiệp chế biến, nhà hàng và người tiêu dùng, nguồn cung đa dạng hơn đồng nghĩa có thêm lựa chọn về nguyên liệu và sản phẩm. Nhưng với người chăn nuôi, thêm một nguồn cung cũng đồng nghĩa thị trường có thêm cạnh tranh về giá.

Giá trong nước bắt đầu chịu sức ép

Nhập khẩu tăng diễn ra trong bối cảnh sản xuất chăn nuôi trong nước vẫn được duy trì. Tại Huế, sản lượng thịt lợn 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 9.828 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ; sản lượng thịt gia cầm đạt 9.474 tấn, tăng 3,7%. Tại Đắk Lắk, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt hơn 124.000 tấn, tăng 6,2%. Sản lượng thịt gia cầm cũng tăng gần 6% so với cùng kỳ.

Những số liệu địa phương không đại diện cho toàn quốc, nhưng cho thấy nguồn cung trong nước vẫn đang được duy trì và tăng ở một số vùng chăn nuôi lớn. Trong khi đó, giá lợn hơi đã giảm so với giai đoạn trước. Tháng 6, giá lợn hơi trên cả nước dao động khoảng 63.000-68.000 đồng/kg, giảm so với tháng 5.

Đối với người nuôi, giá bán giảm trong khi chi phí thức ăn, con giống, thuốc thú y và các khoản vận hành không thể giảm ngay theo giá đầu ra sẽ làm biên lợi nhuận bị thu hẹp.

Áp lực này cũng xuất hiện ở ngành gia cầm. Đầu tháng 5, giá gà lông màu tại Đồng Nai khoảng 42.000-45.000 đồng/kg, trong khi gà công nghiệp lông trắng phổ biến 25.000-27.000 đồng/kg. Thời điểm này, sức tiêu thụ chậm trong khi nguồn cung lớn khiến giá nhiều loại gia cầm giảm sâu.

Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở thịt nhập khẩu. Nguồn cung trong nước tăng, hàng nhập khẩu tiếp tục được bổ sung, trong khi sức mua chưa tăng tương ứng khiến giá đầu ra chịu sức ép từ nhiều phía.

Với thịt lợn, lượng nhập khẩu 5 tháng chỉ tăng nhẹ nhưng giá trị lại giảm. Với gia cầm, giá tại một số vùng chăn nuôi từng xuống mức thấp. Hai diễn biến này cùng cho thấy giá không chỉ phụ thuộc vào chi phí sản xuất mà còn chịu tác động trực tiếp từ quan hệ cung – cầu.

Người tiêu dùng có thêm lựa chọn khi nguồn thịt trên thị trường đa dạng hơn. Doanh nghiệp chế biến cũng có thêm nguồn nguyên liệu. Nhưng người chăn nuôi trong nước phải tính toán kỹ hơn về quy mô đàn và thời điểm tái đàn. Khi cả nguồn cung trong nước và nhập khẩu cùng tăng, câu hỏi quan trọng không chỉ là sản xuất được bao nhiêu thịt, mà là thị trường có thể hấp thụ bao nhiêu và người nuôi có thể bán sản phẩm với mức giá nào.

Nguyễn Hiền (tổng hợp)