Theo TS Phạm Thị Huyền, Học viện Quản lý Giáo dục, dạy thêm trái quy định vẫn âm thầm tiếp diễn vì động cơ của giáo viên, học sinh lẫn phụ huynh chưa được giải quyết đến tận gốc.
- Mắc kẹt trên đỉnh núi tuyết, người đàn ông chui cốp xe chờ chết
- Một cú nhảy xuống dòng sông nội đồng gần cống họ Phan
- Khởi tố 7 người trong đường dây rửa tiền từ Nhật Bản
Trong cuộc trao đổi công bố ngày 12/10/2026, bà phân tích động cơ của từng bên, áp lực thi cử, trách nhiệm quản lý và chính sách tiền lương đối với nhà giáo. Hoạt động dạy thêm, học thêm được điều chỉnh tại Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT và các quy định liên quan của Bộ GD&ĐT.
Bà Huyền chỉ ra nguồn gốc sâu xa ngay trong cách giáo viên dùng “quyền lực mềm” qua điểm số và sự yêu ghét. Đó là những câu như “kiến thức trên lớp chỉ đủ cơ bản, muốn làm bài tốt phải học thêm”, “dạng bài nâng cao đã hướng dẫn ở lớp học thêm” hay “các em tự cân nhắc chứ cô không bắt buộc”. Theo bà, mỗi bên đều có hai loại động cơ, tốt và không tốt. Giáo viên muốn hỗ trợ học sinh giỏi hoặc yếu kém, nhưng cũng có người nhắm đến khoản thu nhập thêm.
Học sinh đi học thêm để giỏi hơn, nhưng cũng có em đi vì sợ bị cô trù dập hoặc để làm cha mẹ hài lòng. Phụ huynh mong con tiến bộ, song có người cho con học để làm vừa lòng giáo viên, lo giáo viên không quan tâm giúp con có kết quả tốt, học bạ đẹp, hay vì áp lực thi chuyển cấp. Theo bà, việc chỉ nhắm vào giáo viên và cấm theo nguyên lý “quản không được thì cấm” mới chạm tới phần ngọn. Muốn dứt điểm, phải tác động tới tất cả các đối tượng.
Phụ huynh phản ánh bài tập và kiểm tra vẫn nặng dù chương trình mới hướng đến giảm tải, và không học thêm thì khó theo kịp. Bà Huyền không quy điểm nghẽn về việc chương trình chưa giảm tải hay nhà trường còn đánh giá theo lối mòn, mà chỉ ra sự thiếu thống nhất, đồng bộ giữa chương trình, đội ngũ nhà giáo và điều kiện triển khai như đào tạo, bồi dưỡng, cơ sở hạ tầng.
Hướng đổi mới theo năng lực và phẩm chất người học, theo bà, là đúng hướng. Nhưng nếu giáo viên và cán bộ quản lý chưa đổi cách làm, hoặc hạ tầng chưa đáp ứng, độ vênh sẽ lộ ra và người ta lại đi tìm nguyên nhân, thậm chí đổ lỗi. Vì vậy, lời phản ánh về bài tập nặng chỉ giải thích được một phần của việc học thêm.
Chi phí học thêm hiện chiếm 30-50% thu nhập của nhiều gia đình đô thị. Với bà Huyền, điều đáng lo nhất không nằm ở số giờ hay số tiền, mà ở chỗ học thêm có thể trở thành cơ chế phân tầng cơ hội giáo dục, đồng thời làm đổi thay cách học sinh hình thành động lực, năng lực tự chủ và quan hệ với việc học.
Bà không cho rằng học thêm nào cũng có hại: lớp học phù hợp có thể lấp khoảng trống kiến thức, củng cố sự tự tin hoặc phát triển năng khiếu. Rủi ro xuất hiện khi việc học kéo dài, mang tính bắt buộc, bị nỗi sợ tụt hậu chi phối và thay thế những trải nghiệm thiết yếu khác. Trước hết, bất bình đẳng được tái sản xuất qua giáo dục khi gia đình có điều kiện cho con học thêm nhiều hơn. Tâm lý học sinh cũng bị thành tích chi phối: em có kết quả tốt thì tự tin hơn, em kết quả kém thì rụt rè, e ngại.
Học sinh có xu hướng ỷ lại vào lớp học thêm, khiến khả năng tự học và tính tự chủ suy giảm. Thời gian học kéo dài còn lấy đi giấc ngủ, vận động thể chất, vui chơi và tương tác xã hội của trẻ, ảnh hưởng sức khỏe tinh thần và sự phát triển toàn diện.
Ai phải biết, và biết đến đâu
Mỗi khi có lớp học thêm “chui”, trách nhiệm thường dồn cho giáo viên, còn hiệu trưởng bị đặt câu hỏi liệu có biết hay không. Bà Huyền không muốn thu hẹp vấn đề vào hai khả năng, hiệu trưởng không biết hoặc giáo viên cố tình vi phạm, mà phải xét đồng thời trách nhiệm cá nhân của giáo viên, trách nhiệm quản lý của hiệu trưởng và những hạn chế của cơ chế giám sát.
Câu hỏi cần đặt ra là hiệu trưởng phải biết đến đâu, có công cụ nào để biết, và chịu trách nhiệm thế nào khi vi phạm kéo dài trong phạm vi quản lý của mình.
Theo quy định hiện hành, giáo viên dạy thêm ngoài nhà trường phải khai báo với hiệu trưởng môn dạy, địa điểm, hình thức, mối liên hệ với chủ thể đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm cùng thời gian tham gia, và cập nhật mỗi khi thay đổi. Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lý, theo dõi, nhắc nhở, xử lý hoặc kiến nghị xử lý vi phạm theo thẩm quyền.
Về mặt pháp lý, hoạt động này không hoàn toàn nằm ngoài phạm vi quản lý nghề nghiệp. Nhưng cũng không thể mặc nhiên cho hiệu trưởng có lỗi chỉ vì một giáo viên vi phạm, mà cần xem người đứng đầu đã tiếp nhận thông tin, kiểm tra và xử lý đến đâu.

Thu nhập của nhà giáo nay đã cải thiện, có thêm phụ cấp ưu đãi nghề, nhưng dạy thêm trái quy định vẫn diễn ra, nên câu hỏi đặt ra là liệu xếp lương vào thang bảng lương cao nhất có chấm dứt được tình trạng này. Bà Huyền cho rằng thu nhập chỉ giải thích một phần động cơ kinh tế, và cần phân biệt giáo viên dạy thêm để tăng thu nhập với giáo viên tổ chức dạy thêm trái quy định.
Dạy thêm hợp pháp không đồng nghĩa với vi phạm, nhưng thu nhập cao hơn cũng không tự động loại bỏ vi phạm. Theo Nghị định 182/2026/NĐ-CP, mức phụ cấp ưu đãi theo nghề được quy định theo từng nhóm đối tượng, với các mức từ 20% đến 80%; mức hưởng cụ thể phụ thuộc vào đối tượng và điều kiện công tác theo quy định. Vì vậy, chưa thể kết luận mọi giáo viên đều có thu nhập cao hơn rất nhiều ngành nghề khác.
Theo bà Huyền, tăng thu nhập không phải động cơ duy nhất của dạy thêm, vì áp lực cạnh tranh giáo dục vẫn giữ nhu cầu ấy ngay cả khi lương tăng. Phụ huynh đầu tư để nâng vị thế trong cuộc cạnh tranh cơ hội học tập, lo con thua kém bạn được chuẩn bị tốt hơn, và coi điểm số là chỉ báo cho tương lai.
TS Huyền nhấn mạnh: “Khi dạy thêm trở thành nguồn thu hấp dẫn, động cơ kinh tế vẫn tiếp tục tồn tại. Đạo đức nghề nghiệp và cơ chế thực thi pháp luật là hai yếu tố độc lập với mức lương (dù lương cao nhưng vẫn có thể dạy thêm để tăng thêm thu nhập). Do đó, nếu xếp lương giáo viên vào thang bảng lương cao nhất, chúng ta không thể kì vọng chỉ riêng chính sách này sẽ chấm dứt được tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định”.
Nguyễn Hiền (tổng hợp)
