Những tảng thịt đông lạnh nằm san sát trên quầy, bên cạnh là các loại đùi gà, tim heo được niêm yết mức giá chỉ vài chục nghìn đồng mỗi kg. Tại chợ đầu mối và các kho tổng ở Hà Nội, thịt nhập khẩu được phân phối cho nhà hàng, bếp ăn, cửa hàng thực phẩm và tiểu thương.
- Nghệ An phê duyệt quy hoạch Khu trung tâm hành chính tỉnh rộng 41,76ha
- Thanh niên trình báo sai về giao dịch tiền bị xử phạt hành chính
- Cơ phó Flydubai bị điều tra sau chuyến bay gặp sự cố
Tại một quầy thịt đông lạnh ở chợ đầu mối khu vực phía Nam Hà Nội, chủ quầy dùng đèn khò nướng bề mặt những tảng thịt gà theo yêu cầu của khách. Phần thịt sau khi sơ chế được bán với giá khoảng 80.000 đồng/kg. Đùi tỏi gà, đùi gà và tim heo có giá 53.000 đồng/kg.
Những mức giá này phần nào lý giải sức hút của thịt nhập khẩu đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm. Anh T.V.X., chủ một đơn vị cung ứng thực phẩm sạch nội địa tại Hà Nội, cho biết hàng nhập ngày càng có lợi thế nhờ giá cạnh tranh.
Đơn vị của anh cung cấp gà, vịt, heo, bò, trứng từ các trang trại khép kín, kiểm soát chất lượng và đóng gói theo tiêu chuẩn. Tuy nhiên, dù hàng nội địa có lợi thế về độ tươi và giấy tờ kiểm định, khách hàng vẫn ưu tiên hàng nhập khi giá thành được đặt lên hàng đầu.

Từ kho đông lạnh đến bàn ăn
Ở một kho phân phối thực phẩm đông lạnh thuộc phường Khương Đình (Hà Nội), hoạt động giao nhận diễn ra từ sáng sớm. Kho rộng khoảng 200m2, bên trong là khu bảo quản đông lạnh, bên ngoài bố trí nơi phân loại và đóng gói. Hơn chục công nhân liên tục cắt thịt, bao gói và sắp xếp đơn hàng. Những thùng hàng nhập khẩu nguyên đai nguyên kiện được đưa ra khỏi kho, sau đó cắt thành từng phần theo yêu cầu.
Nguồn hàng tại đây rất đa dạng, từ sản phẩm cao cấp đến các loại thịt phục vụ bếp ăn, quán ăn. Một nhân viên giới thiệu bò Kobe nhập từ Nhật Bản, được cắt theo kích thước và trọng lượng khách yêu cầu, chủ yếu cung cấp cho nhà hàng và cửa hàng thực phẩm. Thịt ba chỉ heo nhập chủ yếu từ Nga được bán với giá khoảng 97.000 – 117.000 đồng/kg tùy loại. Danh mục sản phẩm lên tới hàng trăm mã, phục vụ các món nướng, hấp, kho, chiên, xào, lẩu.
Theo nhân viên tại kho, hàng được nhập liên tục và luân chuyển nguồn trong khoảng ba ngày. Sản phẩm từ kho tổng được phân phối đến nhà hàng, bếp ăn, cửa hàng thực phẩm và tiểu thương.

Tại kho, nhân viên cho biết hàng bán ra có các loại giấy tờ liên quan. Với sản phẩm ba chỉ heo, hồ sơ được cung cấp gồm giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật nhập khẩu, hóa đơn mua hàng từ nhà nhập khẩu, giấy tờ thông quan, chứng nhận thú y của bên xuất khẩu và tờ khai thông quan. Theo chủ quầy, hàng nhập khẩu chủ yếu từ Nga, Mỹ, Brazil và Ấn Độ, được cung cấp cho các bếp ăn công nghiệp, trường học, quán ăn và nhà hàng. Sản phẩm được bán cho bếp ăn công nghiệp, trường học, quán ăn và nhà hàng.
Một khách hàng đang mua thịt heo đông lạnh nhập từ Nga cho quán ăn cho biết chị chọn sản phẩm này vì thịt dày, nhiều nạc, ít mỡ và giá cạnh tranh. Thịt ba chỉ có xương được bán khoảng 105.000 đồng/kg, loại rút xương khoảng 110.000 đồng/kg, trong khi hàng nội địa có giá từ 130.000 đồng/kg trở lên.
Theo chị, nếu mua thịt ba chỉ nội địa và cắt ngắn thớ để giảm mỡ, giá có thể lên 130.000 – 150.000 đồng/kg. Thịt nhập được cắt sẵn, nhiều nạc, ít hao khi chế biến nên phù hợp với nhu cầu của quán ăn. Dù vậy, bài viết ghi nhận cũng không loại trừ có mặt hàng được bảo quản không đảm bảo, sản phẩm cận hạn hoặc hết hạn nhưng vẫn được cấp đông và bán ra thị trường.
Cuộc cạnh tranh giữa thịt nhập và hàng nội vì thế không chỉ nằm ở mức giá. Với người bán và người mua, nguồn gốc, giấy tờ và cách bảo quản cũng là những yếu tố được đặt ra trong quá trình lựa chọn sản phẩm.
Hồng Sơn (tổng hợp)
