Đưa máy dệt công suất cao về làng, xưởng lụa Nha Xá đạt doanh thu khoảng 1,2 tỷ đồng mỗi tháng

Từ những khung cửi phụ thuộc nhiều vào sức người, một cơ sở dệt lụa ở làng Nha Xá (Ninh Bình) đầu tư khoảng 8 tỷ đồng cho hệ thống máy mới. Theo chủ xưởng, năng suất trên mỗi lao động tăng gần 3 lần, doanh thu ước đạt khoảng 1,2 tỷ đồng mỗi tháng.

Từ 4h sáng, tiếng máy dệt đều đặn đã trở thành âm thanh quen thuộc ở làng lụa Nha Xá. Những thiết bị công suất cao đang từng bước thay đổi cách làm nghề của các hộ sản xuất, giảm bớt công đoạn nặng nhọc và sự phụ thuộc vào sức người.

Rời Nhật về làng, nối nghiệp cha bằng xưởng dệt 8 tỷ đồng

Anh Trần Văn Huy, 27 tuổi, hiện quản lý một cơ sở sản xuất lụa tại Nha Xá. Anh làm quen với khung cửi từ năm lớp 10, khi xưởng nhà còn dùng những máy khung gỗ thô sơ.

Học xong ngành cơ khí, anh đi làm một thời gian rồi sang Nhật Bản năm 2021 theo diện kỹ sư, tiếp tục công việc thiết kế cơ khí. Gần 3 năm sau, anh nhận ra thu nhập mang về không như kỳ vọng vì đồng Yên mất giá, tiền công sau quy đổi tích lũy được không nhiều. Nghĩ đến bố mẹ ở quê đã có tuổi, anh quyết định về nước cùng gia đình vận hành xưởng dệt.

Người lao động thực hiện công đoạn nhuộm vải trong cơ sở sản xuất lụa.(Ảnh minh họa: NAM)

Việc anh trở về cũng là lúc gia đình quyết định đầu tư lớn hơn. Với kiến thức cơ khí, anh có thể tự theo dõi, bảo dưỡng và xử lý sự cố cho hệ thống máy trong xưởng.

“Vì tôi về nhà nên bố mẹ mới đầu tư thế này. Để hai ông bà làm ăn túc tắc thì cũng không cần đầu tư máy móc, nợ nần làm gì cho mệt mình”, anh Huy nói.

Với một cơ sở quy mô hộ gia đình, đầu tư máy móc luôn đi kèm rủi ro tài chính. Gia đình anh từng trải qua giai đoạn khó khăn nhất khi đại dịch Covid-19 bùng phát: thị trường đóng băng suốt 3 năm, xưởng vẫn phải duy trì sản xuất và xoay xở các khoản vay ngân hàng.

“Hàng dệt ra gần như không bán được, xưởng chỉ duy trì sản xuất cầm chừng, cố bán được hàng để trả công thợ. Hàng tồn kho hơn 3.000 cuộn vải, gia đình phải tận dụng cả phòng ngủ làm kho hàng mới đủ chỗ chứa”, anh Huy nhớ lại.

Đến năm 2024, khi thị trường khởi sắc, lượng hàng tồn được giải phóng trong khoảng một tháng. Xưởng tái sản xuất và bắt đầu chuyển sang thế hệ máy dệt công suất cao hơn.

Tổng chi phí mua máy, lắp đặt và cải tạo xưởng khoảng 8 tỷ đồng, một nửa là vốn vay, tài sản của gia đình được đem thế chấp. Để không dồn vốn một lúc, xưởng được nâng cấp dần theo từng đôi máy, mất trọn một năm mới hoàn thiện. Theo anh Huy, một máy dệt mới có giá khoảng 450-500 triệu đồng. Trước khi mua, cơ sở phải cân nhắc khả năng thích nghi của máy với nguyên liệu, mặt hàng và thị trường; quá trình chuyển đổi cũng có những lần thử nghiệm thất bại rồi làm lại.

“Gần chục năm nay, sổ đỏ nhà tôi gần như thường trực ở ngân hàng. Vay để lên đời máy móc, vay mua nguyên liệu hay vay xoay vòng sản xuất là điều quá bình thường với những hộ làm kinh doanh thế này”, anh chia sẻ.

Sau một năm đưa 12 máy dệt mới vào vận hành, anh Huy cho biết xưởng đã thu hồi gần một nửa số vốn đầu tư cho đợt chuyển đổi.

Trước đây, 18 máy dệt cũ trong cùng diện tích xưởng cần khoảng 6 thợ vận hành, anh Huy cũng phải thường xuyên có mặt để xử lý sự cố đứt tơ. Nay 12 máy mới chạy 12-14 giờ mỗi ngày với công suất cao hơn, số lao động trực tiếp chỉ còn 3 người, làm việc theo ca.

“Dùng máy cũ, một thợ lành nghề mới trông được 4 máy 1 khổ. Còn với máy hiện nay, một thợ có thể nhàn nhã phụ trách 6 máy 2 khổ. Năng suất nhờ đó tăng gần gấp 3 lần so với trước đây”, anh Huy nói. Như vậy, mỗi lao động nay phụ trách 12 khổ dệt thay vì 4 khổ như trước.

Dòng máy mới vận hành song song 2 khổ dệt, mỗi khổ cho ra khoảng 70 mét vải trong 2 ngày. Với 12 máy hoạt động và giá bán ổn định ở mức 50.000-70.000 đồng/mét, theo ước tính của chủ xưởng, doanh thu đạt khoảng 1,2 tỷ đồng mỗi tháng. Đây là doanh thu, chưa trừ chi phí nguyên liệu, nhân công, điện năng và lãi vay ngân hàng.

Một dàn cửi mới gồm khoảng 12.600 sợi tơ xếp song song. Với máy cũ kém ổn định, sợi thường xuyên bị đứt, buộc người thợ phải dừng máy để nối, tốn thời gian và nhân lực. Máy thế hệ mới chạy ổn định hơn, số sợi đứt giảm đáng kể.

Nhiều khâu khác cũng được cơ giới hóa. Tơ tằm được đặt gia công ở một cơ sở khác trong làng rồi đưa về xưởng quay bằng máy; công đoạn quay tơ vốn tốn nhiều sức người nay do mô-tơ điện đảm nhiệm. Hoa văn như hoa sen, hoa đào, hoa mai được chuyển thành file điện tử, thiết kế và chỉnh sửa trên phần mềm trước khi đưa vào máy dệt.

Dù vậy, theo anh Huy, hầu hết công đoạn trong dây chuyền vẫn cần con người. Khi máy móc làm thay phần thủ công, kinh nghiệm của người thợ thể hiện ở khả năng làm chủ thiết bị và xử lý tình huống phát sinh.

Chị Phạm Thị Huệ, công nhân làm việc với dàn máy mới khoảng 2 năm, cảm nhận rõ sự thay đổi: “Ngày trước mình làm để theo kịp cái máy, nhịp độ dệt bị gián đoạn bởi những sợi tơ đứt, phải liên tục dừng máy để nối, mướt mồ hôi chạy theo thiết bị. Giờ máy chạy tốt rồi mình chủ yếu theo dõi nó thôi. Nhàn hơn nhiều mà vẫn phải tỉ mỉ, cẩn thận.”

Giữ hồn nghề lụa giữa guồng máy công nghiệp

Hiện làng Nha Xá có hơn 20 hộ sở hữu máy dệt công suất cao: nhà ít có 2 máy, nhà nhiều khoảng 6 máy, chỉ 3-4 hộ có xưởng quy mô trên 10 máy.

Là làng nghề lâu đời, Nha Xá có lúc sản lượng chưa đáp ứng hết đơn hàng. Một số cơ sở bắt đầu chú trọng xây dựng hình ảnh, đưa sản phẩm lên nền tảng trực tuyến, nhưng cách làm này chưa phổ biến. Với nhiều hộ, khi đơn hàng đã ổn định, truyền thông chưa phải ưu tiên; họ tập trung nâng công suất và hoàn thiện sản phẩm để đáp ứng các đầu mối.

Công đoạn nhuộm là ví dụ rõ nhất cho phần việc máy chưa thay được. Cùng là màu xanh nhưng có thể cần đậm hơn, nhạt hơn hoặc ngả sang sắc khác; người thợ lâu năm dựa vào kinh nghiệm để điều chỉnh, trong khi một hệ thống nhuộm hiện đại đòi hỏi khoản đầu tư rất lớn.

Ông Trần Văn Hưng, chủ một cơ sở sản xuất lụa, có khoảng 40 năm làm nghề và đã chứng kiến nhiều thế hệ máy móc, từ máy gỗ, máy sắt, máy thoi đến máy dệt Jacquard và các thiết bị hiện đại hơn. Theo ông, giữ nghề không đồng nghĩa với giữ nguyên chiếc máy cũ hay cách làm cũ.

“Muốn nghề tồn tại phải liên tục đổi mới. Sản phẩm cốt lõi vẫn là những mặt hàng truyền thống, nhưng chất lượng và năng suất được nâng lên nhờ công nghệ”, ông Hưng chia sẻ.

Máy móc có thể làm ra nhiều mét vải hơn trong cùng thời gian, nhưng để nghề truyền thống tồn tại, điều quan trọng còn là khả năng thích nghi của người làm nghề.

Hoàng Hà (tổng hợp)