Vì sao dân gian gọi lối học thuộc lòng là học vẹt

Việt Nam – Trong kho tàng ngôn ngữ dân gian, con vẹt trở thành biểu tượng duy nhất cho cách học thuộc lòng máy móc, dù sáo và yểng cũng là hai loài chim nổi tiếng không kém về khả năng bắt chước tiếng người.

Cụm từ “học vẹt” quen thuộc đến mức ít ai đặt câu hỏi vì sao lại là vẹt chứ không phải sáo hay yểng, trong khi cả ba loài đều sở hữu khả năng nhại giọng người, thậm chí yểng còn được nhiều người đánh giá là bắt chước rõ và giống hơn vẹt. Câu trả lời được lưu truyền trong dân gian nằm ở một câu chuyện ngụ ngôn cũ, nơi số phận của từng loài chim đã rẽ theo hai hướng khác nhau.

Chim yểng đứng trên cành cây, loài chim được nhiều người nuôi làm cảnh. (Ảnh minh họa: NAM)

Chuyện kể rằng một con vẹt sau khi học được vài tiếng người liền trở nên hãnh diện, tuyên bố từ nay chỉ nói tiếng người chứ không dùng tiếng loài chim nữa. Các loài chim trong vườn, trong đó có sáo, hợp sức bày cho vẹt lặp lại những câu vô nghĩa để cả bầy được một trận cười, khép lại bằng bài học về việc bắt chước mà không hiểu gì.

Trong câu chuyện ấy, sáo không phải là kẻ bị đem ra làm trò cười mà đóng vai người tỉnh táo đứng ngoài chê bai sự hợm hĩnh của vẹt. Hình ảnh “học mà không hiểu” vì thế gắn chặt vào một mình con vẹt, còn sáo và yểng dù giỏi bắt chước âm thanh không kém vẫn đứng ngoài cuộc, không có câu chuyện tương tự để trở thành biểu tượng.

Hay chim sáo cũng có khả năng nhại tiếng: (Ảnh minh họa: NAM)

Sự phổ biến của vẹt trên toàn thế giới cũng góp phần củng cố định kiến này. Vẹt được biết đến rộng rãi với hình ảnh gắn liền duy nhất với việc nhại lời người, trong khi sáo và yểng ở Việt Nam thường được nuôi vì giọng hót hay hoặc khả năng bắt chước đa dạng âm thanh tự nhiên, không chỉ chuyên nói tiếng người như định kiến về vẹt.

Dù câu chuyện gốc có chính xác tuyệt đối hay không, một điều vẫn còn nguyên đến hôm nay: con vẹt mang tiếng oan suốt bao đời, còn sáo và yểng vẫn ung dung đứng ngoài mỗi khi người ta nhắc đến chuyện học hành.

Hoàng Hà (tổng hợp)